Bản án 01/2019/HS-ST ngày 08/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 01/2019/HS-ST NGÀY 08/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Trong ngày 08 tháng 01 năm 2019, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 171/2018/TLST- HS ngày 06 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2018/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1984; nơi ĐKNKTT: Tổ X, khu Y, phường PĐ, thành phố UB, tỉnh QN; chỗ ở: Tổ X, khu Y, phường PĐ, thành phố UB, tỉnh QN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn):11/12; dân tộc: Kinh; con ông Phạm Văn T và bà Phạm Thị T; vợ: Vũ Thúy D, sinh 1989; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ ngày 18-10-2018; tạm giam ngày 23-10-2018 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1957

Nơi cư trú: Tổ X, khu Y, phường PĐ, thành phố UB, tỉnh QN, vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Phạm Ngọc L, sinh năm 1952

Nơi cư trú: Tổ X, khu Y, phường TV, thành phố UB, tỉnh QN, vắng mặt tại phiên tòa.

3. Ông Lê Viết M, sinh năm 1959, địa chỉ: Tổ X, khu Y, phường TV, thànhphố UB, tỉnh QN, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 18-10-2018, tổ công tác phương án 12 - Công an thành phố Uông Bí trong khi làm nhiệm vụ tại tổ X, khu Y, phường TV, thành phố UB, đã tiến hành kiểm tra hành chính xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển số: 14D - 002.47 do ông Phạm Văn T điều khiển, trên xe chở Phạm Văn T (là con trai ông T). Khi kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước bên phải T đang mặc một vỏ bao thuốc lá ba số 5, bên trong có một túi nilon mầu trắng, kích thước (2x2) cm, trong chứa chất tinh thể mầu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại di động Samsung mầu vàng nhạt có số sim 0904009208 và tạm giữ xe ô tô BKS 14P - 002.47.

Tại bản Kết luận giám định số: 661/GĐMT ngày 21-10-2018 của Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng có trong túi nilon thu của Phạm Văn T là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là0,328gam (không phẩy ba trăm hai mươi tám gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 18-10-2018, vì có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đã gọi điện thoại cho Đ nhà ở phường YT, thành phố UB, tỉnh QN hỏi mua 200.000 đồng ma túy, Đ đồng ý bán và hẹn T đến cổng nhà máy Bia, thuộc khu X, phường YT, thành phố UB. Sau đó T đi xe máy đến điểm hẹn, khoảng 5 phút sau Đ một mình đi xe máy đến đưa cho T một túi nilon kích thước (2x2) cm chứa chất tinh thể mầu trắng, T kiểm tra thấy đúng là ma túy, T cất vào vỏ bao thuốc lá ba số 5 rồi đút vào túi quần của mình đang mặc đi về nhà. Đến 20 giờ cùng ngày, T đi ô tô cùng bố xuống khu vực trường tiểu học TV để bàn việc làm ăn, khi xong việc, ông T điều khiển xe ô tô cùng T đi về đến khu vực tổ X, khu Y, phường TV, thành phố UB thì bị Công an thành phố Uông Bí kiểm tra, phát hiện thu giữ tại túi quần thực đang mặc số ma túy trên. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại di động Samsung mầu vàng nhạt có số sim 0904009208.

Tại Cáo trạng số 03/CT - VKSUB - QN ngày 05-12-2018, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Người chứng kiến ông Phạm Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra với nội dung: Khoảng 20 giờ ngày 18-10-2018, ông từ nhà xuống nhà con trai ở phường TV để đi bàn việc làm ăn. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, ông chở T đến gần trụ sở cũ của Công thành phố thì bị lực lượng Công an thành phố Uông Bí kiểm tra, thu giữ bên trong túi quần phía trước bên phải T đang mặc 01 bỏ bao thuốc nhãn hiệu 555, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, nghi là ma túy đá. Việc T mua và cất giấu ma úy trong người ông T không biết.

Người chứng kiến ông Lê Viết M và ông Phạm Ngọc L vắng mặt tại phiên tòa nhưng cũng có lời khai thể hiện việc chứng kiến Công an thành phố Uông Bí thu giữ ma túy và tài sản của Phạm Văn T.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Văn T theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T với mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ bị cáo bị tạm giữ ngày 18-10-2018; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 661/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh hoàn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động SAMSUNG màu vàng nhạt cùng số sim 0904009208 thu giữ của Phạm Văn T.

Bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tài liệu chứng cứ trong hồ sơ; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai xác nhận của nhữngngười chứng kiến và nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ ngày 18-10-2018, tại tổ X, khu Y, phường TV, thành phố UB, tỉnh QN, Phạm Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý tàng trữ trái phép 0,328gam (không phẩy ba hai tám gam) chất ma túy, loại Methamphetamine, thì bị Công an thành phố Uông Bí phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kếtluận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

 [3] Về hình phạt:

 [3.1] Hình phạt chính:

Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

Xét về nhân thân, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cần có một hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo cai nghiện và sửa chữa lỗi lầm của bản thân.

 [3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án là 01 phong bì số 661/GĐMT ngày 21-10-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh hoàn lại sau giám định được niêm phong bên trong chứa Methamphetamine thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động SAMSUNG màu vàng nhạt cùng số sim 0904009208 thu giữ của Phạm Văn T, bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy, do đó cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

 [5] Về vấn đề khác:

- Đối với đối tượng Đ đã bán ma túy cho Phạm Văn T, quá trình điều tra chưa rõ lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với xe ô tô hiệu CHEVROLET, BKS 14P - 002.47 do ông Phạm Văn T điều khiển, quá trình điều tra, xác định không liên quan đến hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của T, nên Công an thành phố Uông Bí đã trả xe ô tô trên cho ông T là chủ sở hữu là phù hợp.

 [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

 [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt Phạm Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ: Ngày 18-10-2018.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì số 661/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh hoàn lại sau giám định được niêm phong còn nguyên vẹn.

+ Tịch thu, phát mại, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động SAMSUNG màu vàng nhạt cùng số sim 0904009208 là phương tiện phạm tội thu giữ của bị cáo Phạm Văn T.

(Tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 12 năm 2018 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố UB, tỉnh QN).

3. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23, Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) vào ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 08 tháng 01 năm 2019./.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HS-ST ngày 08/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:01/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về