Bản án 01/2019/HNGĐ-ST ngày 14/01/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 01/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/01/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 14 tháng 01 năm 2019, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 202/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018, về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982;

ĐKHKTT: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;

Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương- (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1980;

ĐKHKTT: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;

Hiện đang được chăm sóc điều trị tại: Trung tâm nuôi dưỡng tâm thần người có công và xã hội tỉnh Hải Dương; Địa chỉ: Khu dân cư B -T, phường C, thị xã C, tỉnh Hải Dương - (vắng mặt).

- Người giám hộ cho anh K: Bà Trần Thị N, sinh năm 1952 - (có mặt);

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 12 năm 2018 cùng bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn K kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 03/3/2003. Vợ chồng chị chung sống được hơn 01 năm thì anh K phát bệnh hay đi lang thang, đập phá đồ đạc, đánh vợ, chửi hàng xóm. Năm 2006 chị và gia đình anh K đã đưa anh K đi điều trị bệnh ở nhiều nơi, nhưng không có kết quả. Đến năm 2007 do chán nản và chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đã đưa con về nhà bố mẹ chị sống. Năm 2015 anh K được gia đình đưa vào chăm sóc điều trị tại Trung tâm nuôi dưỡng tâm thần người có công và xã hội tỉnh Hải Dương. Từ đó đến nay chị cũng không quan tâm và không có trách nhiệm với anh. Nay sức khỏe của anh K vẫn chưa ổn định, anh không thể cùng chị gánh vác việc gia đình. Ngày 27/7/2018 chị có đơn yêu cầu Tòa án: Tuyên bố anh Nguyễn Văn K mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 06/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã Quyết định: Tuyên bố anh Nguyễn Văn K là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định bà Trần Thị N (mẹ đẻ anh K) là người giám hộ cho anh K. Đến nay chị xác định mục đích hôn nhân giữa chị và anh không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh Nguyễn Văn K.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 13 tháng 10 năm năm 2004, hiện cháu đang sống cùng chị. Chị xin tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh K góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 27 tháng 12 năm 2018 Tại biên bản ghi lời khai của anh K và biên bản hòa giải giữa anh K và chị H có sự chứng kiến của người giám hộ cho anh K là bà Trần Thị N. Anh K có lúc trả lời được có lúc không trả lời được, nhưng các ý kiến của anh K thể hiện: Xác nhận thời gian và điều kiện kết hôn, về con chung và vợ chồng không có tài sản chung như chị H trình bày là đúng. Chị H xin ly hôn anh không đồng ý. Anh đồng ý để chị H tiếp tục nuôi con, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Khi Tòa án xét xử anh xin vắng mặt và đồng ý để mẹ anh là người giám hộ đại diện cho anh tham gia phiên tòa.

Bà Trần Thị N (mẹ anh K) trình bày: Sau khi anh K và chị H kết hôn, anh chị sống tại hạnh phúc được khoảng hơn 01 năm, anh chị đã có 01 con chung. Sau đó anh K bị bệnh tâm thần thường xuyên đánh chị H. Gia đình bà đã đưa anh K đi điều trị nhiều nơi nhưng không có kết quả. Chị H đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ chị sống. Năm 2015 bà đã đưa anh K vào chăm sóc điều trị tại Trung tâm nuôi dưỡng tâm thần người có công và xã hội tỉnh Hải Dương. Hiện sức khỏe của anh K vẫn chưa ổn định, lúc nhớ lúc quên hay nói linh tinh, nếu đưa anh về tình bệnh anh ngày càng nặng hơn. Ngày 06/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã Quyết định: Tuyên bố anh K là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà là người giám hộ cho anh Nguyễn Văn K. Nay chị H xin ly hôn, bà đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị Hạnh ly hôn anh K. Vợ chồng anh K có 01 con chung là Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 13 tháng 10 năm năm 2004, hiện cháu đang sống cùng chị H, bà đề nghị để chị H tiếp tục nuôi cháu. Anh K và chị H không có tài sản chung. Do chị H phải một mình nuôi con vất vả nên bà không yêu cầu chị H phải có trách nhiệm với anh K.

Cháu Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 13 tháng 10 năm năm 2004 có nguyện vọng xin ở với mẹ.

Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh K.

Bà Trần Thị N vẫn giữ nguyên các ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người giám hộ cho bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã có Quyết định tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và có người giám hộ theo quy định. Anh Nguyễn Văn K đã có ý kiến xin vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh K là đúng pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81, 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 BLTTDS; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị H ly hôn anh K. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 13 tháng 10 năm năm 2004 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị H không yêu cầu. Về tài sản chung: Nguyên bị đơn đều xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại Quyết định số 03/2018/QĐST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách đã tuyết bố anh Nguyễn Văn K là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định bà Trần Thị N (mẹ đẻ anh K) là người giám hộ cho anh Nguyễn Văn K và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của anh K theo quy định của pháp luật. Anh K có ý kiến xin vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt anh K.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn K kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn của Luật Hôn nhân và gia đình nên xác nhận là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc hơn 01 năm thì anh K bị bệnh tâm thần đã điều trị nhiều nơi nhưng không khỏi bệnh. Vợ chồng anh chị ly thân, chị không có trách nhiệm với anh từ năm 2007 đến nay. Nay anh K không đồng ý ly hôn, nhưng thực tế anh là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đang được chăm sóc điều trị tại Trung tâm nuôi dưỡng tâm thần người có công và xã hội tỉnh Hải Dương nên không thể thực hiện được các nghĩa vụ của người chồng trong gia đình. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không muốn sống cùng anh, chứng tỏ mục đích hôn nhân giữa anh và chị không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H.

[2] Về quan hệ con chung: Chấp nhận nguyện vọng của chị Nguyễn Thị H và cháu M, giao cháu Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2004 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị H không yêu cầu. Anh K và bà N là người giám hộ cho anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M không ai được cản trở [3] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, chị H và anh K không yêu cầu Tòa giải quyết nên HĐXX không xét.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm dân sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật phí và lệ phí 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn K 2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2004 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị H không yêu cầu. Anh K và bà N và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm dân sự được đối trừ với 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị đã nộp tại biên lai số AA/2017/000 4423 ngày 3/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách.

Chị Nguyễn Thị H và bà Trần Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Ki có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết./.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HNGĐ-ST ngày 14/01/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:01/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nam Sách - Hải Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 14/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về