Bản 01/2021/HNGĐ-ST ngày 05/01/2021 về ly hôn 

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 05/01/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 05 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 1256/2020/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 11 năm 2020 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 417/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim H, sinh năm 1993, xin vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp BT2, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1990, xin vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp 1A, xã H, huyện Đ, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/11/2020, nguyên đơn bà Võ Thị Kim H trình bày tóm tắt như sau:

Bà và ông Nguyễn Minh T có tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân, được hai bên tổ chức lễ cưới hỏi năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh L ngày 05/5/2011. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc cho đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, bà và ông T ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Minh T.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Võ Tường V, sinh ngày 29/10/2009 và Nguyễn Võ Đăng Kh, sinh ngày 25/10/2013, các con hiện nay đang sống chung với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà H xác định, tài sản chung bà và ông T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông T không có nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn ông Nguyễn Minh T được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.

Bà H và ông T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Bà Võ Thị Kim H và ông Nguyễn Minh T có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về hôn nhân: Bà Võ Thị Kim H và ông Nguyễn Minh T cưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/5/2011 (số 104/2011) nên quan hệ hôn nhân của bà H và ông T được pháp luật thừa nhận là hợp pháp từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Bà H cho rằng cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc là do ông T không quan tâm chăm sóc gia đình nên mới xin ly hôn. Ông T được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án thể hiện việc bà H yêu cầu xin ly hôn với ông tại Tòa án nhưng ông T không có ý kiến, không thể hiện ý chí đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình số 220/2020/QĐST-HN ngày 23/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết giữa bà H và ông T, lý do đình chỉ do bà H rút đơn hai bên đã hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, nay bà H tiếp tục yêu cầu xin ly hôn với ông T. Điều đó, chứng tỏ quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận theo đơn yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Kim H đối với ông Nguyễn Minh T.

[3] Về quyền nuôi con chung: Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 cháu Nguyễn Võ Tường V và cháu Nguyễn Võ Đăng Kh, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Ông T không có ý kiến phản hồi về quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con, xét thấy con chung của bà H và ông T cháu Tường V và Đăng Kh, có nguyện vọng sống với bà H khi bà H và ông T ly hôn nhau với nhau, đồng thời từ khi ly thân cho đến nay bà H là người trực tiếp nuôi cháu Tường V và cháu Đăng Kh phát triển bình thường.

Do đó, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển ổn định cho các con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung cháu Tường V và Đăng Kh cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định bà và ông T không có tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung giữa các bên. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung.

Trường hợp sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung cũng như quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Kim H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 và Điều 86 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ vào vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim H về việc “xin ly hôn” đối với ông Nguyễn Minh T.

Về hôn nhân: Bà Võ Thị Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.

Về quyền nuôi con chung: Bà Võ Thị Kim H được quyền trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Võ Tường V, sinh ngày 29/10/2009 và cháu Nguyễn Võ Đăng Kh, sinh ngày 25/10/2013.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Minh T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung vì bà H không yêu cầu.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Võ Thị Kim H xác định tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Võ Thị Kim H xác định tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Võ thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, sung ngân sách Nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006882, ngày 17/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án, để xin xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản 01/2021/HNGĐ-ST ngày 05/01/2021 về ly hôn 

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về