Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 khi nào có hiệu lực? Doanh nghiệp có phải xóa dữ liệu cá nhân của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng từ 01/01/2026 hay không?
>> Xác nhận điện tử trong hồ sơ bệnh án điện tử gồm những hình thức nào?
>> Từ ngày 21/7/2025, người bệnh phải xác nhận điện tử trong hồ sơ bệnh án điện tử đúng không?
Bài viết này PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP sẽ giải đáp thắc mắc "Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 khi nào có hiệu lực?" quý khách hàng có thể tham khảo nội dung chi tiết dưới đây:
Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 vào ngày 26/6/2025, quy định về dữ liệu cá nhân, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Theo đó, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định dữ liệu cá nhân là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể, bao gồm:
- Dữ liệu cá nhân cơ bản: Là dữ liệu cá nhân phản ánh các yếu tố nhân thân, lai lịch phổ biến, thường xuyên sử dụng trong các giao dịch, quan hệ xã hội, thuộc danh mục do Chính phủ ban hành.
- Dữ liệu cá nhân nhạy cảm: Là dữ liệu cá nhân phản ánh các yếu tố nhân thân, lai lịch phổ biến, thường xuyên sử dụng trong các giao dịch, quan hệ xã hội, thuộc danh mục do Chính phủ ban hành.
![]() |
Toàn văn Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 mới nhất |

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 khi nào có hiệu lực
(Ảnh minh họa - Nguồn từ Internet)
Căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 25 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng người lao động như sau:
1. Trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tuyển dụng lao động được quy định như sau:
a) Chỉ được yêu cầu cung cấp các thông tin phục vụ cho mục đích tuyển dụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân tuyển dụng phù hợp với quy định của pháp luật; thông tin được cung cấp chỉ được sử dụng vào mục đích tuyển dụng và mục đích khác theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật;
...
2. Trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, sử dụng người lao động được quy định như sau:
a) Tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật về lao động, việc làm, pháp luật về dữ liệu và quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Dữ liệu cá nhân của người lao động phải lưu trữ trong thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận;
c) Phải xóa, hủy dữ liệu cá nhân của người lao động khi chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp theo thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Việc xử lý dữ liệu cá nhân của người lao động được thu thập bằng biện pháp công nghệ, kỹ thuật trong quản lý người lao động được quy định như sau:
a) Chỉ được áp dụng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm quyền, lợi ích của chủ thể dữ liệu cá nhân, trên cơ sở người lao động biết rõ biện pháp đó;
b) Không được xử lý, sử dụng dữ liệu cá nhân thu thập từ các biện pháp công nghệ, kỹ thuật trái quy định của pháp luật.
Theo đó, căn cứ theo nội dung Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 thì doanh nghiệp (người sử dụng lao động) phải xóa dữ liệu cá nhân của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp theo thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Căn cứ tại Điều 7 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 có quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực dữ liệu cá nhân cụ thể như sau:
|

