DanLuat
Chào mừng bạn đến với Dân Luật . Để viết bài Tư vấn, Hỏi Luật Sư, kết nối với Luật sư và chuyên gia, … Bạn vui lòng ĐĂNG KÝ TÀI KHOẢN.
×

Thêm câu phản hồi

Có phải loại hình doanh nghiệp nào cũng có tư cách pháp nhân?

Avatar

 

Luật doanh nghiệp 2014 thừa nhận khá nhiều các loại hình doanh nghiệp khác nhau, bao gồm công ty TNHH (một thành viên hoặc hai thành viên trở lên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, có phải bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào cũng có tư cách pháp nhân, chúng ta sẽ cùng xem xét từng loại hình cụ thể.

Trước khi đi vào xác định đâu là loại hình doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận là có tư cách pháp nhân, phải xác định được những điều kiện để được coi là một pháp nhân. Cụ thể theo quy định tại Điều 74 Bộ luật dân sự 2015, một tổ chức được pháp luật thừa nhận là pháp nhân khi đáp ứng đủ 4 điều kiện sau: (1) Được thành lập hợp pháp theo quy định của BLDS hay pháp luật có liên quan; (2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, được quy định tại Điều 83 BLDS 2015; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (4)  Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Chỉ khi đáp ứng đủ 4 điều kiện này, tổ chức mới được xem là có tư cách pháp nhân.

- Đối với loại hình là Công ty TNHH (một thành viên hoặc hai thành viên trở lên): Luật doanh nghiệp 2014 quy định công ty TNHH sẽ có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoảng nợ nằm trong phạm vi số vốn góp vào công ty, chính vì thế có sự tách biệt rõ rệt giữa tài sản của công ty với tài sản của cá nhân, tổ chức khác và công ty sẽ tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó của mình.

Đối với Công ty TNHH một thành viên, cũng chỉ có một chủ sở hữu như doanh nghiệp tư nhân nhưng lại chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn của công ty (không giống như Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn) nên từ đó, cũng tạo nên sự khác biệt về tư cách pháp nhân. Đồng thời, mọi hoạt động của Công ty TNHH đều phải được tách bạch với chủ sở hữu, công ty TNHH sẽ có người đại diện theo pháp luật đứng ra thực hiện một số hoạt động nhân danh công ty.

- Đối với loại hình doanh nghiệp là Công ty Cổ phần: Theo khoản 2 Điều 110 Luật doanh nghiệp 2014, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Công ty cổ phần được thành lập có tài sản độc lập đối với các cá nhân, tổ chức khác. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, hoàn toàn không “dính líu” đến tài sản riêng của cá nhân mình. Đồng thời, Công ty cổ phần cũng nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập thông qua người đại diện theo pháp luật của công ty.

- Về loại hình công ty hợp danh: Theo khoản 2 Điều 172 Luật doanh nghiệp 2014, công ty hợp danh được pháp luật thừa nhận là có tư cách pháp nhân khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Ở công ty hợp danh bao gồm 2 tư cách thành viên: thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty và thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Dù thành viên hợp danh có trách nhiệm vô hạn như vậy tuy nhiên chỉ trong trường hợp tài sản của công ty không đủ để chịu trách nhiệm thì tài sản của các thành viên hợp danh (đã chuyển quyền sở hữu cho công ty) mới được sử dụng đến nên xét ở một phần nào đó, công ty hợp danh vẫn có tài sản độc lập với thành viên hợp danh của công ty đó. Chính vì thế, pháp luật vẫn thừa nhận tư cách pháp nhân cho công ty hợp danh.

- Doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn khác biệt với tất cả các loại hình trên, doanh nghiệp tư nhân không được pháp luật thừa nhận là có tư cách pháp nhân. Theo quy định tại khoản 1 Điều 183 Luật doanh nghiệp năm 2014 thì doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chỉ do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chiếu theo điều kiện thứ (3) được trình bày ở trên, doanh nghiệp tư nhân đã không đáp ứng được.

Đồng thời, khi tham gia vào các quan hệ tố tụng, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ là nguyên đơn, hoặc bị đơn, hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các tranh chấp liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, chứ không phải là nhân dan doanh nghiệp tư nhân. Vì vậy mà điều kiện (4), doanh nghiệp tư nhân cũng không thể đáp ứng được.

  •  72484
  •  Cảm ơn
  •  Phản hồi

Chủ đề đang được đánh giá

0 Lượt cảm ơn
câu phản hồi
Click vào bảng để xem hiển thị đầy đủ thông tin

Bạn vui lòng đăng nhập hoặc Đăng ký tại đây để tham gia thảo luận

Loading…