Bản án về tranh chấp xin ly hôn số 122/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU 

BẢN ÁN 122/2021/HNGĐ-ST NGÀY 21/10/2021 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

 Ngày 21 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 164/2021/TLST-HN ngày 24 tháng 6 năm 2021 về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1994 Địa chỉ: ấp K9, xã PĐ, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp.

2/. Bị đơn: Anh Lê Văn Th, sinh năm 1985 Địa chỉ: ấp CM, xã ĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu (Chị L và anh Th có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 31/5/2021, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Lê Văn Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: vợ chồng anh chị cưới nhau vào khoảng năm 2016, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT vào ngày 05/02/2016 và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn theo chị L xác định: thời gian đầu chung sống với nhau thì vợ chồng anh chị sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây thì vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc. Chị sống bên gia đình chồng nhưng bên gia đình chồng lại quá khó khăn, chồng chị luôn nghe lời mẹ chồng, không bênh vực chị. Hai vợ chồng anh chị đã ly thân hơn 01 năm nay và chị đã về nhà cha mẹ ruột chị sống từ khoảng tháng 6/2020 đến nay. Hiện tại vợ chồng không thể hàn gắn mâu thuẫn được, nên chị xin ly hôn với chồng chị là anh Lê Văn Th.

Về con chung: chị L xác định thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 01 người con chung tên Lê Văn Q, sinh ngày 02/9/2018, hiện đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị L xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị. Khi ly hôn chị L không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 27/9/2021 anh Lê Văn Th xác định: Thời gian đầu chung sống với nhau thì vợ chồng anh chị sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây thì vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc. Nguyên nhân chính là do vợ anh thường xuyên lấy tiền của gia đình gửi về cho bên vợ, khi gia đình anh phát hiện và nhắc nhở thì vợ anh lại giận dỗi bỏ về nhà cha mẹ vợ. Hai vợ chồng anh chị đã ly thân từ tháng 6/2020 đến nay. Hiện tại anh vẫn còn thương vợ, nhưng vợ chồng không thể hàn gắn mâu thuẫn được, nên anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của vợ anh là chị Nguyễn Thị L.

Về con chung: anh Th xác anh đồng ý giao người con tên Lê Văn Q, sinh ngày 02/9/2018, cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục, nhưng anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con, nếu vợ anh không có điều kiện nuôi con thì giao về cho anh nuôi, hoặc nếu vợ anh cản trở quyền thăm con của anh thì sau này anh sẽ khởi kiện yêu cầu thay đổi người nuôi con sau ly hôn.

Về tài sản chung và nợ chung: anh Th xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị. Khi ly hôn anh Th không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Lê Văn Th chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Giữa chị L và anh Th kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, quá trình Tòa án làm việc thì cả chị L và anh Th đều có nguyện vọng muốn được ly hôn với nhau, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 55 Luật Hôn nhân và gi a đình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị L và anh Th là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử tôn trọng sự thỏa thuận của chị L và anh Th, giao người con tên Lê Văn Q, sinh ngày 02/9/2018 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp. Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị L và anh Th không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí thì chị L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị L có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Th. Anh Th có địa chỉ cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.

Chị L và anh Th có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị L và anh Th.

[2] Về nội dung vụ án: giữa chị L và anh Th kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã ĐT cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 05/02/2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh Th thì Hội đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị L và anh Th lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Anh chị cũng đã ly thân khoảng hơn 01 năm qua. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Quá trình Tòa án làm việc thì cả chị L và anh Th đều có nguyện vọng được ly hôn với nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn trong hôn nhân của anh chị đã rất trầm trọng, cuộc sống chung của anh chị là không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị L và anh Th để anh chị có một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, ổn định hơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Từ lúc vợ chồng chị L và anh Th ly thân với nhau thì người con tên Lê Văn Q, sinh ngày 02/9/2018 là do chị L trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục, chị L vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Hơn nữa, chị L và anh Th cũng đã thống nhất thỏa thuận giao con cho chị L được tiếp tục nuôi. Do đó, Hội đồng xét xử giao người con tên Lê Văn Q, sinh ngày 02/9/2018 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

Chị L không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Th. Anh Th có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Do chị L và anh Th không đặt ra yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

luật.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị L phải chịu theo quy định của pháp Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51 và 55, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lê Văn Th.

2/. Về nuôi con chung: giao người con tên Lê Văn Q, sinh ngày 02/9/2018 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục.

Chị L không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Th.

Anh Th có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về án phí: chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001698 ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Nguyễn Thị L và anh Lê Văn Th biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ


32
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp xin ly hôn số 122/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:122/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hải - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/10/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về