Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 16/2021/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 16/2021/HNGĐ-ST NGÀY 23/07/2021 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 23 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2021/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2021 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Bằng L - sinh năm 1993; Địa chỉ (Nơi đăng ký HKTT): Thôn 9, xã H, thành phố M, tỉnh Q. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hứa Hùng M - sinh năm 1989; Địa chỉ (Nơi đăng ký HKTT): Thôn 9, xã H, thành phố M, tỉnh Q. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện; trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Vũ Bằng L trình bày:

Chị và anh Hứa Hùng M tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố M, tỉnh Q vào ngày 12/10/2018. Trước khi kết hôn, chưa ai có vợ, có chồng, có thời gian tìm hiểu yêu nhau.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến vợ chồng xô xát, không còn tình cảm. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành, vợ chồng cũng ly thân đến ngày 01 tháng 6 năm 2019, anh M phạm tội bị bắt, sau đó phải đi thi hành án tại Trại giam Quảng Ninh. Nay chị L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn mà trở lại chung sống với nhau được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị Vũ Bằng L xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Hứa Khánh Đan, sinh ngày 09/3/2019, hiện cháu Đan đang được chị L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị L đề nghị được nuôi con chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về tài sản chung: Chị L xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, vợ chồng không vay nợ chung của tổ chức hay cá nhân nào, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn là anh Hứa Hùng M có quan điểm:

Anh và chị Vũ Bằng L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hải Xuân, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 12/10/2018. Trước khi kết hôn, chưa ai có vợ, có chồng, có thời gian tìm hiểu yêu nhau.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống vợ chồng căng thẳng, không hạnh phúc. Ngày 01 tháng 06 năm 2016, anh phạm tội bị bắt, phải đi thi hành án tại Trại giam Quảng Ninh. Nay chị L khởi kiện ly hôn, anh nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, anh cũng đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị L.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Hứa Khánh Đan, sinh ngày 09/3/2019, do anh đang thi hành án phạt tù nên đồng ý để chị L là người trực tiếp nuôi con, anh không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị L.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, vợ chồng không vay nợ chung của tổ chức hay cá nhân nào, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện tại anh M đang thi hành án phạt tù nên anh đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh M tại Tòa án (Có đơn đề nghị về việc giải quyết, xét xử vắng mặt tại Tòa án), đồng thời chị L có quan điểm đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải đối với vụ án này.

Tại phiên toà chị L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt với nội dung vẫn giữ nguyên quan điểm như trên và không cung cấp thêm chứng cứ gì mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu ý kiến về việc chấp hành và tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với anh M đang chấp hành án phạt tù không đến Tòa tham gia tố tụng nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời chị L cũng có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt họ là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị L, anh M đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể hàn gắn và yêu cầu của chị L là có căn cứ nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị L được ly hôn anh M. Về con chung đề nghị giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng: Xét thấy, chị L yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Hứa Hùng M có nơi đăng ký thường trú tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt tại Tòa án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh M.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Vũ Bằng L và anh Hứa Hùng M tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hải Xuân, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 12/10/2018 (Số 58/2018). Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời khai của chị L, anh M, thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L, anh M là có, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến xô xát, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay cả hai bên đều nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài mà chung sống với nhau được nữa nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L, cho chị L được ly hôn anh M là phù hợp theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

Xét thấy, quá trình chung sống vợ chồng có Hứa Khánh Đan, sinh ngày 09/3/2019, hiện đang được chị L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị L và anh M đều có quan điểm do anh M đang thi hành án phạt tù nên chị L là người trực tiếp nuôi con, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị L. Vì vậy, cần thiết giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị L.

[2.3] Về tài sản chung: Chị L và anh M đều xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, vợ chồng không vay nợ chung của tổ chức hay cá nhân nào, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị L là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân gia đình nên phải nộp án phí sơ thẩm quy định tại khoản 4, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 58; các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Bằng L.

Về hôn nhân: Chị Vũ Bằng L được ly hôn anh Hứa Hùng M.

Về con chung: Giao con chung Hứa Khánh Đan, sinh ngày 09/3/2019 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh M không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị L.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; áp dụng khoản 4, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Vũ Bằng L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị L đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0000555 ngày 26/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị L, vắng mặt anh M, báo cho chị L, anh M biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

272
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 16/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:16/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Móng Cái - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 23/07/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về