Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 34/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 34/2024/HS-ST NGÀY 29/01/2024 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 256/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Lương A, sinh năm 2002, tại Quảng Trị; Nơi đăng ký thường trú: Xóm E, thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; Nơi ở hiện nay: ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Lương N, sinh năm 1977 và bà Võ Thị O, sinh năm: 1980; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự:

không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/9/2023 đến ngày 12/9/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh Điểu Nguyễn Thanh D, sinh năm: 2003 (Vắng mặt) Nơi cư trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1992 (Vắng mặt) Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hà Đức T, sinh năm: 1984 (Vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

2. Anh Lê Văn T1, sinh năm: 1998 (Vắng mặt) Nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

3. Anh Nguyễn Đinh Chu T2, sinh năm: 1996 (Vắng mặt)

 Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

4. Anh Võ Hữu T3, sinh năm: 1991 (Có mặt) Đăng ký thường trú: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Trần Lương A đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào ngày 30/8/2023, Trần Lương A đến nhà anh Đ Nguyễn Thanh D, sinh năm 2003, ngụ tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, đưa ra thông tin gian dối với anh D là muốn thuê một cây đàn Organ KORG PA-700, màu đỏ đen của anh D trong thời gian ba ngày để đem đi biểu diễn văn nghệ với số tiền thuê là 600.000 đồng. Do có mối quan hệ bạn bè quen biết từ trước, anh D đồng ý cho Lương A thuê cây đàn trên mà không làm giấy tờ, hợp đồng thuê mượn. Sau đó, Lương A đến gặp anh Lê Văn T1, sinh năm 1988, thường trú tại ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, để trao đổi về việc bán chiếc đàn Organ trên. Lúc này, anh T1 tiếp tục giới thiệu Lương A với anh Nguyễn Đinh Chu T2, sinh năm 1995, thường trú tại ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai để bán cây đàn trên. Quá trình trao đổi, mua bán, Lương A nói dối cây đàn Organ trên là của Lương A muốn bán cho anh T2. Nghe vậy, anh T2 đã đồng ý mua cây đàn của Lương A bán với giá 14.500.000 đồng. Số tiền bán cây đàn, Lương A đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Ngày 31/8/2023, Lương A tiếp tục đưa ra thông tin gian dối như trên để chiếm đoạt một cây đàn Organ, nhãn hiệu Yamaha PSR S750, màu đen của anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1992, thường trú tại ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Lương A đã đến gặp anh Hà Đức T, sinh năm 1984, thường trú tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận và nói dối cây đàn Organ trên là của Lương A muốn bán cho anh T. Nghe vậy, anh T đã đồng ý mua cây đàn của Lương A bán với giá 7.600.000 đồng. Số tiền bán cây đàn, Lương A đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 108/KL-HĐĐG ngày 07/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện X, kết luận: Giá trị của 01 cây đàn Organ nhãn hiệu KORG PA-700, màu đỏ đen, đã qua sử dụng là 23.000.000 đồng và giá trị của 01 cây đàn Organ nhãn hiệu YAMAHA PSR S750, màu đen, đã qua sử dụng là 7.000.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

- 01 cây đàn Organ, nhãn hiệu KORG PA-700, màu đỏ đen, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định, sau khi anh Nguyễn Đinh Chu T2 mua cây đàn của Trần Lương A, anh T2 đã bán cây đàn cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không thu giữ được.

- 01 cây đàn Organ, nhãn hiệu YAMAHA PSR S750, màu đen, đã qua sử dụng do anh Hà Đức T tự nguyện giao nộp.

* Trách nhiệm dân sự:

- Anh Điểu Nguyễn Thanh D là bị hại đã được gia đình Trần Lương A bồi thường 01 cây đàn Organ, nhãn hiệu KORG PA-700, màu đỏ đen, đã qua sử dụng, có kiểu dáng, kích thước, chủng loại, giá trị tương đương cây đàn mà Trần Lương A đã chiếm đoạt. Anh D đã có đơn bãi nại, đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Lương A, không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, cam kết không khiếu kiện hoặc khiếu nại về sau.

- Anh Nguyễn Thanh H là bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, nên đã có đơn bãi nại, đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Trần Lương A, không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, cam kết không khiếu kiện hoặc khiếu nại về sau.

- Anh Hà Đức T là người đã mua cây đàn Organ, nhãn hiệu Yamaha PSR S750, màu đen của Trần Lương A. Anh T đã nhận số tiền 7.600.000 đồng mà gia đình Trần Lương A bồi thường, đây là số tiền anh T trả cho Lương A để mua cây đàn, nên không yêu cầu gì thêm về dân sự.

- Anh Nguyễn Đinh Chu T2 là người đã mua cây đàn Organ KORG PA-700, màu đỏ đen của Trần Lương A. Anh T2 không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại bản cáo trạng số: 258/CT-VKS-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Trần Lương A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trần Lương A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Ngoài ra, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Lương A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Trần Lương A đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Vào ngày 30/8/2023 và ngày 31/8/2023, tại huyện X, tỉnh Đồng Nai; Trần Lương A đã dùng thủ đoạn gian dối để thuê 01 cây đàn Organ, nhãn hiệu KORG PA-700, màu đỏ đen đã qua sử dụng của anh Đ Nguyễn Thanh D trị giá 23.000.000 đồng và 01 cây đàn Organ nhãn hiệu YAMAHA PSR S750, màu đen, đã qua sử dụng của anh Nguyễn Thanh H trị giá 7.000.000 đồng rồi đem bán hai cây đàn nêu trên lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng trị giá tài sản Trần Lương A chiếm đoạt là 30.000.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Lương A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả. Ngoài ra, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật nhưng vì để có tiền tiêu xài, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người khác.

Tuy bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã thật sự ăn năn hối hận về hành vi của mình, có nơi cư trú rõ ràng, nghĩ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách để cho bị cáo cơ hội thay đổi bản thân cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa chung và phù hợp với quy định của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo

[6] Về xử lý vật chứng: 01 cây đàn Organ, nhãn hiệu YAMAHA PSR S750, màu đen, đã qua sử dụng do anh Hà Đức T tự nguyện giao nộp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Thanh H là phù hợp.

[7] Đối với anh Lê Văn T1, anh Nguyễn Đình Chu T4 và anh Hà Đức T khi mua đàn do Trần Lương A bán thì anh T1, anh T4 và anh T không biết nguồn gốc cây đàn do Trần Lương A phạm tội mà có nên hành vi của anh T1, anh T4 và anh T không cấu thành tội phạm tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không đưa ra hình thức xử lý là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu về dân sự nên không xem xét, giải quyết.

[9] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Trần Lương A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Lương A 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/01/2024).

Giao bị cáo Trần Lương A cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 87 và khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Lương A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

41
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 34/2024/HS-ST

Số hiệu:34/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuân Lộc - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về