Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 27/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 27/2021/HNGĐ-ST NGÀY 23/06/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 23 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 525/2020/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp NV, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Quang L, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp NV, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị Bích H trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông L chung sống với nhau năm 2011 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, việc chung sống của ông bà là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý và làm đám cưới theo phong tục tập quán.

Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do ông L thường xuyên uống rượu về quậy phá, dẫn đến mâu thuẫn hai vợ chồng tăng lên và ngày càng rạn nứt, bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay, bà xét thấy đời sống hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn này xin được ly hôn với ông Huỳnh Quang L.

- Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Huỳnh Lê, sinh ngày 06/6/2011, hiện tại con vẫn sống chung với ông bà, nếu ly hôn bà có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung. nợ chung: Ông bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, bị đơn ông Huỳnh Quang L trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà H chung sống với nhau năm 2011 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, việc chung sống của ông bà là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý và làm đám cưới theo phong tục tập quán.

Thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc, đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn do tôi thường xuyên uống rượu về nhà trễ và không có việc làm nên vợ buồn lòng cho rằng ông không lo gì cho gia đình nên làm đơn xin ly hôn. Ông mong muốn Toà án hoà giải cho ông bà đoàn tụ vì ông còn thương vợ, thương con không muốn gia đình đổ vỡ. Nay bà H xin ly hôn ông không đồng ý.

- Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Huỳnh Lê T, sinh ngày 06/6/2011. Do ông không muốn ly hôn nên không có yêu cầu gì.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Bích H đối với ông Huỳnh Quang L; về con chung: Giao con chung Huỳnh Lê T, sinh ngày 06/6/2011 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn bà Lê Thị Bích H có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Huỳnh Quang L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn mà bị đơn cư trú tại ấp NV, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Về nội dung tranh chấp:

[3] Về hôn nhân: Bà Lê Thị Bích H và ông Huỳnh Quang L là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương ngày 06/6/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên đơn cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do bị đơn thường xuyên uống rượu về quậy phá, dẫn đến mâu thuẫn hai vợ chồng tăng lên và ngày càng rạn nứt, nguyên đơn đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được. Bị đơn cho rằng vợ chống sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn do ông thường xuyên uống rượu về nhà trễ và không có việc làm nên vợ buồn lòng cho rằng ông không lo gì cho gia đình nên làm đơn xin ly hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 09/3/2021, đại diện chính quyền địa phương xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho biết mâu thuẫn gia đình giữa bà H và ông L là do vợ chồng cãi nhau nhưng không yêu cầu địa phương hoà giải. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn, bị đơn đã trầm trọng, tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh, bản sao sổ hộ khẩu xác định bà Lê Thị Bích H và ông Huỳnh Quang L có 01 con chung tên Huỳnh Lê T, sinh ngày 06/6/2011. Con đã trên 07 tuổi nên Hội đồng xét xử xét theo nguyện vọng của cháu T là muốn chung sống với mẹ và xét các điều kiện về nuôi con, sự ổn định tâm lý của trẻ nên HĐXX giao con cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp, không gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích H đối với bị đơn ông Huỳnh Quang L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1. Về hôn nhân: Bà Lê thị Bích H được ly hôn với ông Huỳnh Quang L.

2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Lê T, sinh ngày 06/6/2011 cho bà Lê Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích H không yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Quang L cấp dưỡng nuôi con.

Ông Huỳnh Quang L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, bà Lê Thị Bích H cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở ông Huỳnh Quang L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật.

3. Về sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Bích H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án AA/2016/0043805 ngày 23/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./


23
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 27/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:27/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Giáo - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về