Bản án về ly hôn số 38/2021/HNST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 38/2021/HNST NGÀY 25/06/2021 VỀ LY HÔN

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2021/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXX-ST ngày 12 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1973.

Địa chỉ: 307A1, khu phố 3, phường Phú T, thành phố B, tỉnh B (có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Thanh D, sinh năm 1972.

Địa chỉ: 307A1, khu phố 3, phường Phú T, thành phố B, tỉnh B (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hữu Thanh D kết hôn vào ngày 17/01/1995 tại Ủy ban nhân dân phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, hôn nhân do tự nguyện. Thời gian đầu sống H phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống sâu sắc không thể hòa hợp, cuộc sống hôn nhân không H phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, sự việc này đã kéo dài suốt trong thời kỳ chung sống nhưng vì con cái nên bà cố gắng D trì đến nay thì không thể tiếp tục sống chung do mâu thuẫn ngày càng sâu sắc, cả hai không còn tình cảm với nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2017 đến nay, do đó bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Thanh D.

Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thảo Y sinh năm 1994 đã trưởng thành và lập gia đình, do đó bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung và tài sản chung không có.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2021 bị đơn ông Nguyễn Hữu Thanh D trình bày:

Ông và bà Trần Thị H kết hôn năm 1995, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phú Khương. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do không hợp. Ông không đồng ý ly hôn với bà H do chưa xử lý xong về tài sản với bà H, tài sản chung của vợ chồng có đất và 01 căn nhà tường cấp 4 và đất khoảng 190 m2 do bà Trần Thị H đứng tên. Đất có nguồn gốc bên bà H cho vợ chồng sau khi kết hôn, hiện nay bà H vẫn đang đứng tên đất, ông yêu cầu được chia 1/3 giá trị nhà đất. Con chung là Nguyễn Ngọc Thảo Y đã trưởng thành.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

-Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật; bị đơn không đến tham gia giải quyết vụ án là vi phạm quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

-Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị H với ông Nguyễn Hữu Thanh D; con chung là Nguyễn Ngọc Thảo Y đã trưởng thành nên không phải xem xét; về tài sản chung ông D có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật. Nộ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

- Bà Trần Thị H có yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu Thanh D, ông D có nơi cư trú tại phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre nên đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.

- Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Nguyễn Hữu Thanh D vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà Trần Thị H với ông Nguyễn Hữu Thanh D xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1995, có đăng ký hết hôn tại Ủy ban nhân dân dân phường Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Theo lời trình bày của bà H thì bà và ông D chung sống H phúc trong thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng ly thân từ tháng 10 năm 2017 đến nay, bà yêu cầu ly hôn với ông D. Ông D thừa nhận ông và bà H có mâu thuẫn trong quá trình chung sống do không hợp nhau, vợ chồng ly thân hôn 04 năm nhưng ông không đồng ý ly hôn. Nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án ông D không đến Tòa án để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều đó chứng tỏ ông không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, lý do ông đưa ra để không đồng ý ly hôn với bà H là không phù hợp nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

- Về con chung: Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Hữu Thanh D có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thảo Y, sinh ngày 18 tháng 7 năm 1994, hiện đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Trần Thị H cho rằng bà và ông D không có tài sản chung nhưng ông D cho rằng ông và bà H có tài sản chung là nhà đất do bà H đứng tên, ông yêu cầu chia 1/3. Nhận thấy, việc ông D yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất do bà H đứng tên nhưng không được bà H thừa nhận, đồng thời ông D không có chứng cứ chứng minh. Mặc khác, Tòa án đã thông báo cho ông D bổ sung chứng cứ cho yêu cầu nhưng ông không thực hiện nên không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông. Ông D có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản với chung với bà H bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

-Về nợ chung: Bà Trần Thị Hanh và ông Nguyễn Hữu Thanh D đều khai không có nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí, vì vậy bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, Luật hôn nhân gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bàTrần Thị H. Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Thanh D.

2.Về con chung: Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Hữu Thanh D có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thảo Y, sinh ngày 18 tháng 7 năm 1994, hiện đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Ghi nhận việc bà Trần Thị H cho rằng bà và ông Nguyễn Hữu Thanh D không có tài sản chung. Ông Nguyễn Hữu Thanh D được quyền yêu cầu chia tài sản chung với bà Trần Thị H bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

4.Về nợ chung: Bà Trần Thị Hanh và ông Nguyễn Hữu Thanh D đều khai không có nên không xem xét giải quyết.

5.Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Trần Thị Hanh phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006954 ngày 26 tháng 02 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, bà H đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

129
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 38/2021/HNST

Số hiệu:38/2021/HNST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về