Bản án về ly hôn số 117/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT, TỈNH KH

BẢN ÁN 117/2022/HNGĐ-ST NGÀY 23/08/2022 VỀ LY HÔN

Ngày 23/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân T phố NT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 584/2022/TLST-HNGĐ ngày 10/5/2022, về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2022/QĐ-HNGĐ ngày 16/8/2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn : Ông Bùi Trung T, sinh năm 1934. Có mặt. Địa chỉ: 17/11D Nguyễn Thị Minh Khai, Lộc Thọ, NT, KH.

* Bị đơn : Lê Thị H, sinh năm 1947. Vắng mặt.

Địa chỉ: 640/7 (số cũ 304/7) Lê Hồng Phong, Phước Hải, NT, KH.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Bùi Trung T trình bày: ông và bà Lê Thị H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Lộc Thọ, T phố NT, tỉnh KH vào năm 2012. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống. Ông và bà H đã sống ly thân nhau từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, nay ông yêu cầu được ly hôn với bà H. Về con chung: ông và bà H không có con chung. Về tài sản chung và nợ chung: ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bà Lê Thị H vắng mặt nên không có lời khai.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

+ Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Bùi Trung T được ly hôn với bà Lê Thị H; Về con chung: không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Ông T không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;

Về án phí: ông Bùi Trung T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bị đơn bà Lê Thị H có địa chỉ nơi cư trú tại phường Phước Hải, T phố NT, tỉnh KH, theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Trung T về “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân T phố NT theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

[1.2] Bị đơn bà Lê Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt nhiều lần. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn bà Lê Thị H theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Trung T và bà Lê Thị H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Lộc Thọ, T phố NT, tỉnh KH cấp giấy chứng nhận kết hôn số 114, ngày 29/9/2012, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Bùi Trung T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bà H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà H nhưng bà H đều vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện bà H bỏ mặc và không còn quan tâm đến việc hòa giải quan hệ hôn nhân. Như vậy, lời trình bày của ông T về việc vợ chồng có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, ông T và bà H cũng đã sống ly thân nhau, không còn ai quan tâm, chăm sóc cho nhau. Cuộc sống hôn nhân của ông T và bà H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được là có căn cứ và đúng thực tế. Vì vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.

[2.2] Về con chung: Ông T và bà H không có con chung nên không xem xét

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu nên không xem xét.

[2.4] Về án phí: Ông T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án thì ông T được miễn nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[2.5] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố NT tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Trung T.

1.Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Trung T được ly hôn với bà Lê Thị H.

2. Về con chung: Ông T và bà H không có con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét

4. Về án phí: Ông Bùi Trung T là người trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, ông T được miễn án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Bùi Trung T có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với bị đơn bà Lê Thị H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

202
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 117/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:117/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 23/08/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về