Bản án về ly hôn giữa ông Th, bà G số 57/2021/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 57/2021/HNGĐ-ST NGÀY 25/08/2021 VỀ LY HÔN GIỮA ÔNG TH, BÀ G

Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 131/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2021/QĐXX-ST ngày 05/8/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1954 Địa chỉ: thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình

2. Bị đơn: bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1966 Đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (Ông Th có mặt, bà G có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, nguyên đơn là ông Hoàng Văn Th có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị G có tự do tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 26/10/2020 tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình ông ở thôn H, xã A, huyện Q. Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hợp nhau. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng vào tháng 01/2021 bà G đã bỏ về xã A, huyện Q sinh sống, vợ chồng cũng ly thân từ đó. Ông Th thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được ông xin được ly hôn bà Nguyễn Thị G.

Về con chung: Ông Th trình bày, vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/7/2021 và Đơn xin xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị G có ý kiến trình bày như sau:

Về hôn nhân: Bà xác nhận về thời gian, hoàn cảnh, điều kiện kết hôn như ông Th trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình ông Th ở thôn H, xã A, huyện Q, vợ chồng chung sống hòa thuận được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Th luôn đa nghi bà không thật lòng với ông, ngoài ra bà còn bất đồng với các con riêng của ông Th. Ngày 17/12/2020 (âm lịch) bà đã về thôn A, xã A, huyện Q sinh sống vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay không ai quan tâm gì đến nhau. Ông Th có đơn xin ly hôn bà nhất trí ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận mải công việc, đi lại khó khăn nên bà G đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Th được miễn án phí ly hôn sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa ông Hoàng Văn Th và bà Nguyễn Thị G là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bà Nguyễn Thị G có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà G là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về điều kiện kết hôn và tình trạng hôn nhân vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của ông Th, bà G được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được khoảng 03 tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 17 tháng 12 năm 2020 (âm lịch) đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Ông Th có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, bà G cũng nhất trí vì cho rằng tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Th, bà G đã trầm trọng, đời sống chung không Th kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Th, xử cho ông được ly hôn bà G là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Ông Th, bà G không có con chung, nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Th, bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Ông Th có đơn xin miễn án phí và là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Ông Th, bà G có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho ông Hoàng Văn Th được ly hôn bà Nguyễn Thị G.

2. Về con chung: Vợ chồng không có, không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra để giải quyết.

4. Về án phí: Ông Hoàng Văn Th được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Hoàng Văn Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25 tháng 8 năm 2021). Bà Nguyễn Thị G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.


46
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn giữa ông Th, bà G số 57/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:57/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quỳnh Phụ - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/08/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về