Bản án 26/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 26/2019/HS-ST NGÀY 19/03/2019 VỀ TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; SỬ DỤNG CON DẤU HOẶC TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC

Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2019/HS-ST ngày 25-02-2019 đối với bị cáo:

Mạc Đình K, sinh năm 1993; hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 10/12; con ông: Mạc Đình Kh, sinh năm: 1960; con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1967; Vợ: Lê Thị Hiếu T, sinh năm: 1991, đã ly hôn; con Mạc Lê Huyền Tr, sinh ngày 27/11/2014; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2015 bị xử phạt cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo tại ngoại. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có tham gia mạng xã hội Facebook, nên khoảng tháng 6/2018, Mạch Đình K thấy trên mạng Facebook có một số tên tài khoản Facebook rao nhận làm các loại bằng cấp giấy tờ như Giấy phép lái xe các hạng, các loại văn bằng học văn hóa, vănbằng nghề… K nảy sinh ý định sẽ làm giả các giấy tờ, văn bằng để bán cho nhữngngười có nhu cầu sử dụng. K tìm hiểu cách làm giả các loại văn bằng, giấy tờ qua mạng xã hội, sau đó tìm mua các thiết bị máy vi tính, đầu in thẻ tại các cửa hàng điện tử, còn thẻ phôi Giấy phép lái xe, File chèn thông tin văn bản dùng để làm giả các loại giấy phép lái xe thì K đặt mua qua mạng xã hội. Sau khi có được các thiết bị máy vi tính, đồ vật dùng để làm giả Giấy phép lái xe, thì K dùng máy tính xách tay vào mạng Facebook tạo một tài khoản cá nhân tên “Làm bằng lái” để rao nhận làm

Giấy phép lái xe các hạng từ hạng A1 đến hạng FC. Trong thời gian nhận làm Giấy phép lái xe thì có khoảng 04 đến 05 đối tượng khách hàng đã dùng tài khoản Facebook cá nhân để nhắn tin thỏa thuận đặt mua Giấy phép lái xe của K để bán lại cho những người khác. Sau khi thỏa thuận đồng ý giá cả mua bán giao dịch, các đối tượng này sẽ nhắn tin để cung cấp những thông tin về danh tính cho mỗi Giấy phép lái xe rồi gửi cho K. K dùng các thiết bị máy vi tính để đánh máy chèn những thông tin danh tính được cung cấp và những thông tin cần thiết khác vào File văn bản,  K tiếp tục ráp chèn File văn bản hoàn thiện lên thẻ phôi Giấy phép lái xe, rồi đặt thẻ phôi Giấy phép lái xe vào đầu in thẻ đã kết nối với máy vi tính, xong thực hiện thao tác in ra các Giấy phép lái xe giả. Có được Giấy phép lái xe giả rồi,  K bắt đầu thực hiện giao dịch chuyển hàng và nhận tiền bằng cách: K bỏ Giấy phép lái xe giả vào một phong bì và dán kín miệng rồi đón xe khách chạy tuyến Vũng Tàu đến thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại “Hoa Mai” hoặc “Toàn Thắng” để gửi đi. Các đối tượng đặt mua giấy phép lái xe giả từ  K sẽ theo thỏa thuận điểm hẹn nhận hàng từ trước để đến hai bến xe này để nhận phong bì có chứa giấy phép lái xe giả bên trong mà  K gửi đến. Sau đó các đối tượng này sẽ bỏ tiền vào phong bì và dán kín để gửi xe khách chuyển về cho  K,  K cũng sẽ ra đón các tuyến xe khách này tại thành phố Bà Rịa để nhận phong bì có chứa tiền. Đối với mỗi giấy phép lái xe mô tô giả (loại xe 02 bánh)  K bán một cái với giá: 400.000 đồng. Đối với mỗi giấy phép lái xe ô tô giả từ hạng B1 đến hạng FC K bán một cái với giá: 800.000 đồng.

Ngoài việc nhận làm giấy phép lái xe giả các hạng để bán,  K còn nhận làm các văn bằng học văn hóa, bằng nghề để bán. Cụ thể là khi có đối tượng đặt mua của K qua mạng Facebook để bán lại cho người khác, thì  K sẽ dùng tài khoản Facebook cá nhân của mình để liên hệ đặt mua lại từ các đối tượng làm giả để bán lại cho đối tượng đã đặt mua từ  K, chứ K không trực tiếp làm ra các giấy tờ tài liệu này. Bộ hồ sơ này gồm có: 01 Bằng kỹ sư, 01 bảng ghi kết quả học tập, 05 bản sao y chứng thực bằng kỹ sư. K mua với giá 1.000.000 đồng /01 bộ hồ sơ và bán lại với giá 2.000.000 đồng/01 bộ hồ sơ. Mục đích mua đi bán lại là để hưởng tiền lời chênh lệch.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã lập biên bản tạm giữ tại nhà của đối tượng Mạch Đình K các thiết bị dùng để làm giả giấy phép lái xe gồm: 01 CPU máy vi tính để bàn hiệu CELSIUS FUJITSU màu đen; 01 màn hình máy vi tính để bàn 21 inch hiệu SAMSUNG, model: S11C170B màu đen; 01 máy tính xách tay 14 inch hiệu Dell, mã bảo hành (express service code): 3943934354 màu xám đen; 01 đầu in thẻ hiệu HiTi, model name CS-200E màu trắng. Các thiết bị, dụng cụ này K dùng để làm ra giấy phép lái xe giả. Ngoài ra còn lập biên bản tạm giữ các giấy phép lái xe, các văn bằng, giấy tờ nghi vấn được làm giả gồm: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 770154002093 đề ngày 03/04/2015 tên Sở Giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 890156012299 đề ngày 08/01/2018 tên Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh; 01 Bằng kỹ sư Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, số hiệu: A0021573, số cấp vào sổ bằng: 17493, đề ngày 05/10/2010; 01 Bảng ghi kết quả học tập Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, Khóa học: 2007 - 2010, lớp 07CN22, đề ngày 05/10/2010; 05 bản sao chứng thực Bằng kỹ sư Trường đại học Công nghiệp thực phẩm thành phố do Văn phòng công chứng Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh sao y chứng thực.

Qua điều tra, Mạch Đình K khai nhận: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 770154002093 đề ngày 03/04/2015 tên Sở giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 890156012299 đề ngày 08/01/2018 tên Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh là do  K làm giả ra để bán cho các đối tượng đặt mua để  K kiếm tiền tiêu xài. Còn bộ hồ sơ gồm: 01 Bằng kỹ sư Trường đại học Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, số hiệu: A0021573, số cấp vào sổ bằng: 17493, đề ngày 05/10/2010; 01 Bảng ghi kết quả học tập Trường Đại Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, Khóa học: 2007 - 2010, lớp 07CN22, đề ngày 05/10/2010; 05 bản sao chứng thực Bằng kỹ sư Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh do Văn phòng công chứng Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh sao y chứng thực là do K mua lại của các đối tượng làm giả để bán lại cho các đối tượng đã đặt mua từ  K với mục đích  K hưởng tiền lời chênh lệch. Tuy nhiên các giấy tờ tài liệu này  K chưa bán được, vì các đối tượng đặt mua của  K sau đó đã từ chối không mua nữa, nên  K giữ lại thì đã bị cơ quan điều traCông an huyện Châu Đức phát hiện thu giữ.

Tại Bản kết luận giám định số: 699/PC09-Đ3 ngày 16 tháng 11 năm 2018 củaPhòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận:

“01 giấy phép lái xe số: 770154002093, mang tên Văn Văn Hậu, đề ngày 03 tháng 4 năm 2015 (ký hiệu A) không phải do cơ quan nhà nước phát hành.”

Tại Bản kết luận giám định số: 751/PC09 - Đ3 ngày 19 tháng 12 năm 2018của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận:“01giấy phép lái xe số: 890156012299, mang tên Nguyễn Thanh Đ, ngày08/01/2018 (ký hiệu A) là giấy phép lái xe giả.”

Tại Bản kết luận giám định số: 759/PC09- Đ3 ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận:

“- Chữ ký mang tên Đặng Bách H trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A3đến A7 so với chữ ký của ông Đặng Bách H trên tài liệu M2 không phải do cùngmột người ký;

- Hình dấu tròn trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với hình dấu tròn trên tài liệu ký hiệu M1 không phải do cùng một con dấu đóng ra.”

Ngày 22/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã có Công văn số: 684/CAH-CQCSĐT về việc “phối hợp xác minh, điều tra giải quyết vụ án” gửi trường Đại học Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh để xác mimh thông tin của cá nhân có thông tin ghi trên Văn bằng tốt nghiệp và Bảng  ghi  kết  quả  học  tập  như  sau:  Họ  và  tên:  Phạm  Ngọc  K,  ngày  sinh:23/01/1986, Trình độ: Kỹ Sư, Lớp: 07CN22, Khóa học: 2007-2010, Số vào sổ bằng: A0021573, Số hiệu: 17493. Tại Công văn số: 835/DCT của Trường Đại họccông nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh xác định: “Các thông tin ghi trên văn bằng tốt nghiệp và Bảng ghi kết quả học tập nêu trên không trùng khớp với hồsưu lưu tại trường. Văn bằng tốt nghiệp và Bảng ghi kết quả học tập có các thông tin như trên không phải do trường Đại học công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh cấp”.

Ngày 22/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã tiến hành xác minh, thu thập các tài liệu tại Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, thì xác định được ông Đặng Vũ N có quyết định bổ nhiệm chức vụ “Hiệu trưởng” Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định số: 6068/QĐ-BCT ngày 12/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Công Thương. Tuy nhiên, xét thông tin trên 01 Bằng kỹ sư Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, số hiệu: A0021573, số cấp vào sổ bằng:17493, đề ngày 05/10/2010 có đóng “hình dấu tròn màu đỏ” tên trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp Hồ Chí Minh và 01 Bảng ghi kết quả học tập Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, Khóa học: 2007-2010,lớp 07CN22, đề ngày 05/10/2010 có đóng “hình dấu tròn màu đỏ” tên trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, có “chữ ký” mang tên ông Đặng Vũ N chức vụ “Hiệu trưởng” mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ từ đối tượng  K là chưa đúng với thời điểm mà ông Đặng Vũ N được bổ nhiệm chức vụ “Hiệu trưởng”. Đồng thời trước ngày 12/10/2012, thì ông Đặng Vũ N còn đang giữ chức vụ “Phó Hiệu trưởng” của nhà trường.

Ngày 22/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức cũng đã đến xác minh và làm việc với Văn phòng công chứng Nguyễn Đ, Quận 9, thànhphố Hồ Chí Minh để phối hợp điều tra xác minh, thu thập hình dấu và chữ ký. Qua điều tra xác minh đã xác định được: Giấy đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng  có  tên  “Văn  phòng  công  chứng  Quận  9”,  số  đăng  ký  hoạt  động  là: 41.01.0010/TP-ĐKHĐ, cấp lần 1 - ngày 14/07/2009, cấp lần 2 - ngày 24/11/2011,trụ sở tại: 10 Trần Hưng Đ, khu phố 2, phường H, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.Sau đó văn phòng này đổi tên đăng ký hoạt động thành tên “Văn phòng công chứng Nguyễn Đ”, số đăng ký hoạt động là:  41.02.0010/TP-CC-ĐKHĐ, cấp lần 1

- ngày 17/10/2016, trụ sở tại: 10 Trần Hưng Đ, khu phố 2, phường H, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 05/03/2018 thì đổi trụ sở đến địa chỉ: 113 Nguyễn Văn T, phường L, Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, xét thông tin trên 05 bản sao chứng thực Bằng kỹ sư Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh có đề Văn phòng công chứng Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh sao y chứng thực có hình “dấu tròn màu đỏ” tên Văn phòng công chứng Quận

9, có đề số đăng ký hoạt động là: 71019010 và “chữ ký” mang tên Đặng Bách H mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ từ đối tượng  K là không cùng với “số đăng ký hoạt động” của Văn phòng công chứng Nguyễn Đ.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 22-02-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố Mạc Đình  K về tội  “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Mạc Đình  K về tội “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;  đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt  K mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03  năm  06  tháng  tù.  Xử  phạt  bổ  sung  bị  cáo    K  nộp  từ  20.000.000đ  đến 40.000.000đ để sung quỹ nhà nước. Tịch thu sung quỹ nhà nước các vật chứng mà K dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo  K xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo, bị cáo Mạc Đình  K thừa nhận thực hiện hành vi như sau:Từ khoảng tháng 6/2018, Mạch Đình K có hành vi làm giả: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 770154002093 đề ngày 03/04/2015 tên Sở giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 890156012299 đề ngày 08/01/2018 tên Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh là do K làm giả ra để bán cho các đối tượng đặt mua để   K kiếm tiền tiêu xài. Còn bộ hồ sơ gồm: 01 Bằng kỹ sư Trường  đại  học  Công  nghiệp  thực  phẩm  thành  phố  Hồ  Chí  Minh,  số  hiệu: A0021573, số cấp vào sổ bằng: 17493, đề ngày 05/10/2010; 01 Bảng ghi kết quả học tập Trường Đại Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, Khóa học: 2007 - 2010, lớp 07CN22, đề ngày 05/10/2010; 05 bản sao chứng thực Bằng kỹ sư

Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh do Văn phòng công chứng Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh sao y chứng thực là do  K mua lại của các đối tượng làm giả để bán lại cho các đối tượng đã đặt mua từ  K với mục đích hưởng tiền lời chênh lệch. Qua giám định và qua xác minh thì các loại giấy tờ nêu trên đều là giả.

[3] Hành vi mà bị cáo  K thực hiện phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thấy quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức kết luận hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ.

Như vậy đã đủ cơ sở kết luận hành vi của Mạc Đình  K phạm vào tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

[4] Bị cáo Mạc Đình  K là công dân có đủ khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình. Nhưng vì tham lam tư lợi, xem thường pháp luật nên bị cáo đã dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến hoạt động bình thường và uy tín của cơ quan, tổ chức, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần có bản án nghiêm đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo để quyết định cho bị cáo một hình phạt phù hợp.

[5] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo  K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo ly hôn với vợ và hiện nay đang nuôi con nhỏ.

Như vậy cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với  K.

[6] Về vật chứng của vụ án gồm:

- 01 (một) Máy tính xách tay (laptop) 14 inch, hiệu DELL, mã bảo hành (express service code): 3943934354, màu xám đen (đã qua sử dụng).

- 01 (một) Màn hình máy tính để bàn 21 inch, hiệu SAMSUNG, model: S19C170B, màu đen (đã qua sử dụng).

- 01 (một) Đầu CPU hiệu CELSIUS - FUJITSU, màu đen (đã qua sử dụng).

- 01 (một) Máy in thẻ hiệu HITI, model name: CS-200E, màu trắng (đã qua sử dụng). Đây là vật liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Các loại giấy tờ, bằng cấp qua giám định là giả gồm:

- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số: 770154002093, đề ngày 03/04/2015 tên Sở Giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2 số: 890156012299, đề ngày 08/01/2018 tên Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh;

- 01 (một) Bằng kỹ sư trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh cấp, số hiệu: A0021573; Số vào số bằng: 17493, đề ngày 05/10/2010;

- 01 (một) Bảng ghi kết quả học tập trường Đại học Công Nghiệp Thực Phẩm thành phố Hồ Chí Minh cấp. Cấp cho sinh viên Phạm Ngọc Khanh, lớp: 07CN22, khóa học: 2007 - 2010, đề ngày: 05/10/2010;

- 05 (năm) Bản chứng thực bản sao đúng với bản chính Bằng kỹ sư trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh cấp, số hiệu: A0021573; Số vào số bằng: 17493, đề ngày 05/10/2010, do Văn phòng công chứng Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh sao y chứng thực.

Những vật chứng trên kèm theo hồ sơ thì cần tịch thu lưu vào hồ sơ vụ án.

[7] Trong vụ án này, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra để xác định lai lịch của các đối tượng thường tham gia trao đổi mua bán giấy phép lái xe, các giấy tờ tài liệu, văn bằng giả với  K, nhưng tài khoản Facebook cá nhân của  K đã bị pháhỏng nên không thể đăng nhập vào để kiểm tra các nội dung trao đổi mua bán của K với các đối tượng này.  K cũng không nhớ rõ được tên tài khoản Facebook cá nhân của các đối tượng này nên không xác định được các chủ tài khoản. Trong quá trình K thực hiện trao đổi mua bán với các đối tượng này, thì chỉ liên lạc với nhau qua mạng xã hội Facebook chứ không gặp mặt trực tiếp, các đối tượng này cũng không cho  K biết rõ về hình ảnh của đối tượng cũng như địa chỉ nơi ở của đối tượng. Vì vậy, cơ quan điều tra không xác định được lai lịch của các đối tượng tham gia muabán trao đổi với K là ai để tiến hành điều tra xử lý.

[8] Hình phạt bổ sung:

Bị cáo  K Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để bán thu lợi nhuận. Vì vậy cần áp dụng khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung buộc bị cáo nộp một khoản tiền thích hợp là cần thiết.

[9] Về án phí: Bị cáo K nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Mạc Đình  K phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Mạc Đình  K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước gồm:

- 01 (một) Máy tính xách tay (laptop) 14 inch, hiệu DELL, mã bảo hành (express service code): 3943934354, màu xám đen (đã qua sử dụng).

- 01 (một) Màn hình máy tính để bàn 21 inch, hiệu SAMSUNG, model: S19C170B, màu đen (đã qua sử dụng).

- 01 (một) Đầu CPU hiệu CELSIUS - FUJITSU, màu đen (đã qua sử dụng).

- 01 (một) Máy in thẻ hiệu HITI, model name: CS-200E, màu trắng (đã qua sử dụng).

Hiện các vật chứng này đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Đức. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/02/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Đức).

Tịch thu lưu giữ vào hồ sơ vụ án Các loại giấy tờ, bằng cấp qua giám định làgiả gồm:

- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số: 770154002093, đề ngày 03/04/2015 tên Sở Giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2 số: 890156012299, đề ngày 08/01/2018 tên Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh;

- 01 (một) Bằng kỹ sư trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh cấp, số hiệu: A0021573; Số vào số bằng: 17493, đề ngày 05/10/2010;

- 01 (một) Bảng ghi kết quả học tập trường Đại học Công Nghiệp Thực Phẩm thành phố Hồ Chí Minh cấp. Cấp cho sinh viên Phạm Ngọc K, lớp: 07CN22, khóa học: 2007 - 2010, đề ngày: 05/10/2010;

- 05 (năm) Bản chứng thực bản sao đúng với bản chính Bằng kỹ sư trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh cấp, số hiệu: A0021573; Số vào số bằng: 17493, đề ngày 05/10/2010, do Văn phòng công chứng Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh sao y chứng thực.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự xử buộc bị cáo Mạc Đình  K nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.

Án phí: Bị cáo K nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19-3-2019) bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


194
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 26/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

      Số hiệu:26/2019/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Đức - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:19/03/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về