04/05/2021 14:53

Vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

Vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

Cùng với sự phát triển của xã hội ngày nay, việc chi trả không bằng tiền mặt ngày càng phổ biến với nhiều hình thức khác nhau. Một trong số đó là chi trả thông qua thẻ tín dụng.

Thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Nói một cách đơn giản, thẻ tín dụng là loại thẻ giúp bạn mua hàng trước và thanh toán lại cho ngân hàng sau. Với sự tiện lợi như vậy, số lượng người sử dụng loại thẻ này ngày càng nhiều. Song song với việc sử dụng phổ biến thẻ tín dụng thì các tranh chấp giữa ngân hàng và người sử dụng liên quan đến thẻ tín dụng cũng tăng lên và ngày càng phức tạp.

Cụ thể, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2020/DS-ST ngày 26/11/2020 về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng có nội dung tóm tắt như sau:

“Ngày 13/9/2018, bà Phan Thị Thúy O ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S chi nhánh B (Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Phan Thị Thúy O đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 254.479.965 đồng.

Từ khi kích hoạt thẻ đến nay, bà Phan Thị Thúy O đã thanh toán cho Ngân hàng 217.982.000 đồng, sau đó không thanh toán nữa. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở nhưng bà vẫn không trả nợ. Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do bà Phan Thị Thúy O vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà O phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/11/2020 là 76.441.753 đồng, trong đó nợ gốc là 57.748.576 đồng và tiền lãi là 18.693.177 đồng. Lãi tiếp tục tính kể từ ngày 27/11/2020 cho đến khi bà O trả xong nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận.”

Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, buộc bà O phải trả số tiền 76.441.753 đồng, trong đó nợ gốc là 57.748.576 đồng và tiền lãi là 18.693.177 đồng cho Ngân hàng do đã vi phạm hợp đồng giữa hai bên.

Tuy nhiên, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà O nhưng bà vẫn vắng mặt không lý do gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án cũng như việc thi hành bản án.

Tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định như sau:

Điều 91. Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng

1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

2.Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

3....”

Bên cạnh đó, Tòa án đã nhận định hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bà Phan Thị Thúy O là hợp đồng vay tài sản. Do đó, Tòa án đã căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

...

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trong tình huống tại Bản án nêu trên, bà Phan Thị Thúy O đã vi phạm nghĩa vụ với Ngân hàng Thương mại cổ phần S, cụ thể, bà đã không trả nợ các khoản thành toán bằng thẻ tín dụng cho Ngân hàng. Do vậy, việc xác định số tiền nợ và tiền lãi quá hạn của Ngân hàng và Tòa án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Có thể thấy, việc sử dụng thẻ tín dụng trong thanh toán, chi trả cho các giao dịch trong đời sống hàng ngày dần trở nên phổ biến bởi sự tiện lợi, nhanh chóng. Tuy nhiên cùng với việc ngày càng có nhiều người đăng ký sử dụng thẻ tín dụng, thì tranh chấp phát sinh về hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa cá nhân và các tổ chức tín dụng càng trở nên phức tạp và khó giải quyết. Do vậy, các Tòa án cần áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật và thông qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thẻ tín dụng để rút kinh nghiệm nhằm giải quyết hiệu quả hơn các vụ án liên quan đến hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.

Xuân Hiền
232


Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về