31/12/2022 15:58

Tuyển tập bản án có cam kết lên thổ cư, tách thửa trong HĐ chuyển nhượng QSD đất

Tuyển tập bản án có cam kết lên thổ cư, tách thửa trong HĐ chuyển nhượng QSD đất

“Tôi muốn tìm các bản án về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất trong đó có nội dung cam kết lên thổ cư hoặc cam kết tách thửa” _ Hồng Ngọc (Hà Tĩnh)

Chào chị, đối với yêu cầu của chị, Ban biên tập xin gửi đến chị một số bản án có nội dung về cam kết lên thổ cư, tách thửa trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng (CNQSD) đất sau:

1. Bản án 102/2020/DS-PT ngày 20/05/2020 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại

- Cấp xét xử: Phúc thẩm.

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Trích dẫn nội dung: “Hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng bất động sản số 02ACL ngày 20/02/2017 thể hiện ông T chuyển nhượng cho bà Đ 112m2 đất nông nghiệp, số tiền chuyển nhượng 295.000.000 đồng, Công ty và ông T cam kết sẽ hoàn tất thủ tục chuyển đổi 50m2 đất ở, tách thửa và làm thủ tục chuyển nhượng cho bà Đ, tuy nhiên Công ty và ông T không thực hiện được việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất như cam kết do cơ quan Nhà nước thay đổi kế hoạch sử dụng đất, không cho phép tách thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng.”

2. Bản án 121/2019/DS-PT ngày 26/11/2019 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

- Cấp xét xử: Phúc thẩm.

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Trích dẫn nội dung: “Do toàn bộ đất của ông H, bà C là đất nông nghiệp mà hai bên thỏa thuận phải có 100 m2 đất thổ cư nên ông H, bà C cam kết sẽ làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất thổ cư đối với diện tích 100 m2. Từ tháng 01-  2018, ông H, bà C đã liên hệ xin chuyển mục đích sử dụng đất ở 150 m2 nhưng sau đó do phát sinh tranh chấp với hộ liền kề nên đã rút hồ sơ về. Đến giữa tháng 05-  2018, ông H, bà C đã giao lại hồ sơ gồm 02 bản chính Giấy chứng nhận QSD đất, sơ đồ vị trí ngày 02-4-2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X và bản  sao sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân của ông H, bà C để ông T, bà G tiếp tục làm thủ tục chuyển mục đích và tách thửa chuyển nhượng thay cho ông H, bà C. Đến ngày 12-6-2018, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện X ban hành văn bản số  440/TNMT đồng ý cho ông H, bà C chuyển mục đích sử dụng đất. Ông T, bà G đã thông báo cho phía ông H, bà C biết và ứng ra 183.000.000 đồng để ông H, bà C nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất đối với 150 m2 đất ở. Nhưng do lúc này ông H, bà C không muốn tiếp tục chuyển nhượng đất cho ông T, bà G nên đã đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện X thông báo ngưng hồ sơ, không tiếp tục chuyển mục đích sử dụng đất nữa và không chịu nhận tiền của ông T, bà G để nộp tiền chuyển mục đích đất ở.”

3. Bản án 10/2021/DS-ST ngày 23/03/2021 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân T phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

- Trích dẫn nội dung: “Từ ngày nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà H đến nay ông C đã làm nhà sinh sống ổn định và nhiều lần yêu cầu bà H làm thủ tục tách số cho ông C như cam kết nhưng bà H cứ hứa và không thực hiện. Nay ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/10/2001 là hợp pháp.”

 

4. Bản án 104/2019/DS-PT ngày 20/05/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

- Cấp xét xử: Phúc thẩm.

- Cơ quan xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Trích dẫn nội dung: “Hai bên có lập Hợp đồng thỏa thuận mua bán nhà đất đề ngày 20/3/2017, hình thức hợp đồng theo mẫu tự soạn, có người ký làm chứng, không có công chứng, chứng thực. Mặc dù trong hợp đồng chỉ có ông Th và bà T ký tên, nhưng khi giao kết hợp đồng có ông L (chồng bà T) và bà Th (vợ ông Th) chứng kiến và không ai có ý kiến gì phản đối. Bên chuyển nhượng là bà T, ông L không thông báo cho bên nhận chuyển nhượng là ông Th, bà Th biết về việc diện tích đất nêu trên không tách thửa được và cam kết sẽ chuyển mục đích sang đất ở, làm thủ tục sang tên cho ông Th, bà Th trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày 20/3/2017.”

5. Bản án về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 55/2021/DS-ST

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

- Trích dẫn nội dung: “Ngày 27/7/2017, bà có nhận chuyển nhượng của cha mẹ chồng của bà là ông Nguyễn Văn U, bà Huỳnh Thị S diện tích đất 50m2, loại đất thổ cư thuộc thửa 1985. Giá chuyển nhượng là 15.000.000 đồng, bà đã trả đủ tiền cho ông U, bà S. Hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có xác nhận của ông Phan Văn P – Trưởng khu vực Hòa An A ngày 27/7/2017. Tại Điều 3 Hợp đồng chuyển nhượng ông U cam kết sẽ chịu trách nhiệm tách thửa cho bà.”

6. Bản án 158/2018/DS-PT ngày 09/10/2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất

- Cấp xét xử: Phúc thẩm.

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Trích dẫn nội dung: “Việc chuyển nhượng sau đó không thực hiện được, do ông S và bà H không tiến hành các thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư và ký kết hợp đồng chuyển nhượng cho ông. Hiện nay, không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; bởi vì, thời gian thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất và ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ngày 06/9/2011 đến nay đã quá lâu; thửa đất trên đã bị kê biên và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận) liên quan đến thửa đất nói trên do người khác đang giữ.”

Nguyễn Sáng
825

Đây là nội dung tóm tắt, thông báo văn bản mới dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc vui lòng gửi về Email: info@thuvienphapluat.vn