26/08/2022 10:55

Tổng hợp bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tổng hợp bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

“Gần đây tôi đọc được rất nhiều vụ việc lừa đảo từ việc CEO Tân Hoàng Minh bị bắt vì lừa đảo đến cựu chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết bị điều tra lừa đảo và gần đây nhất là vụ việc làm xôn xao mạng hội là cô gái lừa gia đình nhà trai 17 tỷ đồng. Vậy tôi muốn hỏi mức xử phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản? Và mong Ban biên tập tìm cho tôi một số bản án về tội này để tôi tham khảo.” _ Ánh Dương (Tiền Giang)

Chào chị, đối với yêu cầu của chị Ban biên tập gửi đến chị một số thông tin sau:

1. Mức phạt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bởi Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 thì mức phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g)97 (được bãi bỏ)

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b)98 (được bãi bỏ)

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b)99 (được bãi bỏ)

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

2. Tổng hợp bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Bản án 38/2020/HS-ST ngày 26/10/2020 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

+ Trích dẫn nội dung: "Trong thời gian từ năm 2015 đến đầu năm 2017, Quách Văn T dùng từng thủ đoạn gian dối để các bị hại tin tưởng đất đai, cây trồng là tài sản của mình để lừa bán, cho thuê nhằm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể, Quách Văn T đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Trí A số tiền 19.000.000 đồng; ông Nguyễn Trung Ph số tiền 5.000.000 đồng; bà Trần Thị Th số tiền 3.500.000 đồng; ông Đinh Quyết Q số tiền 3.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn N và ông Trần Ngọc H số tiền là 38.000.000 đồng. Ngoài các hành vi trên, vào khoảng tháng 9/2016 Quách Văn T nhờ Đặng Văn U đứng ra giao dịch để ông Nguyễn Văn M tin tưởng thửa đất khoảng 03 ha ( nằm trong dự án quy hoạch khu dân cư lòng hồ Phước Hòa) thuộc quyền sử dụng của T, từ đó M nhận chuyển nhượng thửa đất này. Nên U đã nhận của M tổng cộng 470.000.000 đồng thông qua Vũ Quốc K rồi giao lại cho T."

+ Kết quả giải quyết: Xử phạt bị cáo Quách Văn T 12 (mười hai) năm tù.

2. Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 159/2021/HSPT

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

+ Trích dẫn nội dung:Năm 2016, Trần Thị Như Y. mở cửa hàng kinh doanh, buôn bán mặt hàng đồ dùng cho trẻ em. Đến cuối năm 2017 thì bị thua lỗ và không có tiền trả nợ cho một số người, nên Y có những thủ đoạn gian dối, nói với mọi người là mình đang làm kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận, nhưng do việc mở rộng kinh doanh thêm nhiều mặt hàng khác, như có đường dây mua bán hàng điện tử xuất qua nước Lào, mua hàng khuyến mại đồ dùng gia đình, mua bán đất nên cần vốn lớn. Y đã nói đối với mọi người thân quen cho Y vay mượn tiền trả lãi theo thỏa thuận hoặc góp vốn để kinh doanh mua bán hàng rồi chia lợi nhuận trong thời gian ngắn. Từ tháng 01/2018 đến tháng 7/2019, nhiều người tin tưởng lời nói của Y là thật, đã đưa tiền cho Y. Sau khi chiếm đoạt được tiền, Y lấy tiền của người sau trả cho người mượn tiền trước hoặc lấy tiền của người đưa để trả cho chính họ và sử dụng cá nhân như mua nhà, mua xe ô tô để phô trương nguồn tài sản của mình.”

+ Kết quả giải quyết: Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Như Y tù Chung thân.

3. Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 415/2020/HSST

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Trích dẫn nội dung:Nguyễn Trà D là đối tượng không có nghề nghiệp, đầu năm 2018, Nguyễn Trà D nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tài sản nên đã tự giới thiệu với mọi người Nguyễn Trà D là Phó giám đốc tài chính của Hãng hàng không Vietjet và cố vấn tuyến dụng Hãng hàng không Bamboo Airways có mối quan hệ quen biết người làm ở Lãnh sự quán Canada nên Nguyễn Trà D có khả năng xin việc làm tại Hãng hàng không Bamboo Airways, và xin Visa đi định cư ở nước ngoài. Nhiều người tin Nguyễn Trà D xin được việc làm tại 02 hãng hàng không nêu trên, nên đã đưa tiền cho Nguyễn Trà D. Sau khi nhận được tiền của những người bị hại, Nguyễn Trà D không xin việc làm như đã hứa hẹn mà chiếm đoạt tổng cộng số tiền 1.139.779.656 đồng của nhiều người, cụ thể như sau:...”

+ Kết quả giải quyết: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trà D: 14 năm tù.

4. Bản án 15/2021/HS-ST ngày 05/02/2021 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

+ Trích dẫn nội dung: Từ năm 2012, Th bắt đầu mở tài khoản và thực hiện giao dịch mua, bán cà phê trên sàn cà phê kỳ hạn và bị thua lỗ nên Th phải vay mượn tiền của nhiều người với lãi suất cao để trả nợ dẫn đến mất cân đối về tài chính (số tiền nợ nhiều hơn giá trị tài sản còn còn lại của Đỗ Đức Th, vượt quá khả năng trả nợ). Năm 2015 mặc dù đã mất khả năng trả các khoản nợ nhưng Th vẫn đưa thông tin gian dối đối với những người Th vay tiền để làm ăn, đầu tư công trình điện, đáo hạn ngân hàng…. Sau khi vay được tiền, Th không đầu tư làm ăn, kinh doanh mà dùng tiền vay được trả tiền gốc, tiền lãi cho những người Th vay trước đó cũng như tiếp tục mua, bán cà phê trên sàn cà phê kỳ hạn và bị thua lỗ. Cuối năm 2016, do không có tiền trả nợ nên Th bỏ trốn khỏi địa phương. Với thủ đoạn như trên, bị cáo Đỗ Đức Th đã thực hiện 03 vụ lừa đảo, chiếm đoạt tổng số tiền 8.822.000.000 đồng (Tám tỷ tám trăm hai mươi hai triệu đồng) cụ thể như sau:...”

+ Kết quả giải quyết: Xử phạt: bị cáo Đỗ Đức Th tù chung thân.

5. Bản án 271/2017/HSPT về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

+ Trích dẫn nội dung: Khoảng 15 giờ ngày 30/11/2016 Bùi Thanh H đi nhờ xe ô tô từ thành phố B xuống thị trấn Q, huyện C để xem xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 51F4-xxx do Hứa Thành Đ, trú tại đường H, thị trấn Q, huyện C rao bán trên mạng Internet. Khi đến thị trấn Q, Bùi Thanh H gặp Đ rồi thử xe mô tô và thỏa thuận mua bán xe với giá 27 triệu đồng nhưng thực tế H không có tiền. Qua tìm hiểu Bùi Thanh H biết giấy tờ xe mô tô không phải đứng tên của Đ thì nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này nên khi mở cốp xe để kiểm tra đồ đạc trong xe thì H lấy một chìa khóa của xe máy rồi cất vào túi quần. Để có điều kiện chiếm đoạt xe, Bùi Thanh H nói Đ chở ra ngã tư chợ Q thuộc thị trấn Q để H lấy tiền trả cho Đ. Khi đến ngã tư, Hứa Thành Đ có gọi cho bạn gái là Trần Phạm Châu O, trú tại thị trấn Q, huyện C đi xe mô tô biển kiểm soát 47N9 -xx (xe của O) ra cùng. Sau đó, H đi bộ vào chợ Q rồi gọi điện thoại nói Đ vào chợ để lấy tiền, Đ tin tưởng nên đi bộ vào trong chợ tìm H còn O ở lại trông xe mô tô 51F4- xxx. Sau khi gọi điện thoại, H quay ra chỗ xe mô tô 51F1-xxxx và nói với O đi xe mô tô 47N9-xx vào trong chợ để chở Đ. Lợi dụng lúc O đi vào chợ thì H mở khóa điện xe mô tô 51F4-xxx và điều khiển xe chạy về thành phố B, tháo biển kiểm soát và thay bằng biển kiểm soát 47B1-737.xx (do H nhặt được) để sử dụng.

+ Kết quả giải quyết: Xử phạt: Bị cáo Bùi Thanh H 01 năm 04 tháng tù. 

6. Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 05/2022/HS-ST

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

+ Trích dẫn nội dung:Phạm Tuấn H là giám đốc công ty TNHH MTV đầu tư xây dựng C, được thành lập vào ngày 15-6-2017, có địa chỉ tại tổ dân phố 5, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông với ngành nghề kinh doanh là hoạt động xây dựng chuyên dụng khác. Ngày 26-12-2017, Phạm Tuấn H mua 01 xe ôtô đầu kéo, nhãn hiệu HYUNDAI HD 1000, biển kiểm soát 48C-050.16 và 01 Sơmi rơmooc, nhãn hiệu DOOSUNG, biển kiểm soát 48R-001.05, mang tên Công ty TNHH MTV đầu tư xây dựng C, với giá 2.900.000.000 đồng. Để có tiền mở rộng hoạt động kinh doanh, ngày 03-01-2018, Phạm Tuấn H thế chấp xe ô tô và Sơmi rơmooc cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H, chi nhánh Đ để vay số tiền 1.800.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng...”

+ Kết quả giải quyết: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Việt H phải chấp hành chung của 03 tội là 27 (Hai mươi bảy) năm tù.

7. Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 50/2022/HS-PT

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

+ Trích dẫn nội dung: “S sinh năm 1990, trú tỉnh Quảng Bình là Viên chức của Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình. Nguyễn Tiến S biết ông Nguyễn Duy D đang có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng rừng sản xuất sang đất ở, xin cấp thêm diện tích sử dụng đất và hiến đất làm đường giao thông tại một số thửa đất ở phường Đ, thành phố Đ để phân lô, tách thửa. Nguyễn Tiến S đã giới thiệu với ông D là S có nhiều mối quan hệ, có khả năng làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nên ông D tin tưởng và đồng ý nhờ S làm thủ tục, tiền chi phí ông D sẽ chuyển khoản theo yêu cầu của S. Để tạo thêm niềm tin, S đưa cho ông D thêm hai số điện thoại 0528452528, 0983292782 và giới thiệu đây là số điện thoại của anh Nguyễn Hữu H - Trưởng phòng Quy Hoạch và đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình để liên lạc, nhưng đây là số điện thoại do S sử dụng, mạo danh anh H trực tiếp nhắn tin lừa gạt ông D. Ngoài ra, Nguyễn Tiến S còn tự soạn thảo một Quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tự điền số 6598 và lấy ngày 23/12/2020, sau đó S lấy một văn bản có chữ ký và con dấu của ông Hoàng Quốc V - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình, cắt đoạn văn bản có chữ ký và con dấu dán vào Quyết định trên rồi chụp ảnh và gửi qua Zalo cho ông Nguyễn Duy D.”

+ Kết quả giải quyết: xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến S 17 năm tù.

Nguyễn Sáng
7239

Đây là nội dung tóm tắt, thông báo văn bản mới dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc vui lòng gửi về Email: info@thuvienphapluat.vn