30/09/2021 15:31

Tổng hợp 5 bản án về yêu cầu hủy vi bằng đã lập

Tổng hợp 5 bản án về yêu cầu hủy vi bằng đã lập

Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định 08/2020/NĐ-CP. Vậy, vi bằng đã lập thì có yêu cầu hủy được không? Và khi nào, điều kiện nào thì vi bằng có thể bị tuyên hủy?

Sau đây là Tổng hợp bản án về tranh chấp liên quan đến yêu cầu hủy vi bằng đã lập, các bạn cùng tham khảo để có câu trả lời cho chính mình nhé.

  1. Bản án 67/2018/DS-PT ngày 13/04/2018 về yêu cầu hủy vi bằng của văn phòng Thừa phát lại

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử:Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

+ Trích dẫn nội dung: “nhận thấy Vi bằng số 719/VB-TPLBH lập ngày 30/11/2015 không đúng sự thật. Hơn nữa trong vi bằng lại ghi vợ chồng ông bà và ông T có hùn tiền mua chung thửa đất 84, tờ bản đồ số 5 phường Q, thành phố B là sai vì ông Hồng Q là chủ của thửa đất 84, tờ bản đồ số 5 chứ không phải ông bà. Do đó, ông bà yêu cầu Tòa án hủy Vi bằng số 719/VB-TPLBH lập ngày 30/11/2015 tại Văn phòng thừa phát lại B.”

+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân H1 và bà Nguyễn Thị H đối với Văn phòng thừa phát lại B về việc “Yêu cầu hủy vi bằng”.

  1. Bản án 1071/2018/DS-PT ngày 20/11/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Trích dẫn nội dung: “Vì căn cứ nội dung vi bằng lập ngày 02/10/2013 thể hiện vi bằng chỉ xác nhận sự việc ông N và bà P ký hợp đồng đặt cọc ngày 25/8/2013 và ông N đã nhận của bà P 2.300.000.000 (hai tỷ ba trăm triệu) đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm ông N và bà P cũng hoàn toàn xác nhận vi bằng không phải là hợp đồng mua bán nhà mà chỉ xác nhận lại sự việc các bên đã ký hợp đồng ngày 25/8/2013 và việc giao nhận tiền. Như vậy, vi bằng là chứng cứ để các bên chứng minh có việc giao dịch mua bán nhà ngày 25/8/2013 và số tiền các bên đã giao nhận với nhau, không phải là hợp đồng mua bán nhà. Vì vậy, cần sửa án sơ thẩm về việc hủy vi bằng.”

+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Bùi Ngọc N về việc: Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P ký ngày 25/8/2013 là hợp đồng dân sự vô hiệu.

  1. Bản án 234/2018/DS-PT ngày 24/08/2018 về tranh chấp đòi tài sản (nhà)

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Trích dẫn nội dung: “bà L khởi kiện yêu cầu bà C trả lại cho bà L 02 căn nhà 93A và 93B Đường S, phường B2, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu hủy vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại Quận 8 lập ngày 27/9/2010. Bà L không đồng ý tặng cho bà C căn nhà 93B Đường S, phường B2, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh vì bà C đã không thực hiện đúng cam kết trả lại căn nhà 93A Đường S, phường B2, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà L như hai bên đã thỏa thuận trong vi bằng. Ngày 09/6/2016, bà L đã lập văn bản tuyên bố hủy bỏ nội dung ý kiến trong vi bằng lập ngày 27/9/2010.”

+ Kết quả giải quyết:Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Kim L

  1. Bản án 830/2019/DS-PT ngày 25/09/2019 về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

+ Trích dẫn nội dung:“Bà C đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; giữ toàn bộ 02 hợp đồng tặng cho đã lập vi bằng ngày 22/11/2016, yêu cầu phía nguyên đơn tiếp tục thực hiện thủ tục lập hợp đồng tặng cho đã lập; rút yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án tuyên hủy bản di chúc công chứng số 003377, quyển số 03/2017/CC-SCC/HĐGD ngày 06/3/2017 của cụ Trần Thị T lập tại Văn phòng công chứng Lý Thị Như Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh.”

+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị C.

  1. Bản án 219/2020/DS-PT ngày 25/08/2020 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

+ Trích dẫn nội dung: “Đối với các Vi bằng số G/2016/VB-TPLQ.TĐ ngày 27/12/2016 và Vi bằng số 203/2017/VB-TPLQ.TĐ ngày 13 tháng 3 năm 2017 do Văn phòng T4 Quận T3, Thành phố Hồ Chí Minh lập: đây không phải là một hợp đồng, giao dịch mà Vi bằng chỉ ghi nhận hành vi pháp lý của các bên trong các “văn bản thỏa thuận” do các bên xác lập nên tuyên bố vi bằng do thừa phát lại lập bị vô hiệu là không phù hợp.”

+Kết quả giải quyết:Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Ông Lê Anh T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Đặng Ngọc Duy A.

Sáng Nguyễn
402


Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về