30/01/2021 09:29

Tổng hợp 07 bản án về tranh chấp liên quan đến cổ phiếu, cổ phần

Tổng hợp 07 bản án về tranh chấp liên quan đến cổ phiếu, cổ phần

Theo Bộ Luật dân sự 2015 thì cổ phiếu, cổ phần được coi là một loại tài sản. Vì vậy, cổ phiếu, cổ phần có thể là đối tượng của các quan hệ mua bán, tặng cho, cầm cố, vay… Các tranh chấp liên quan đến cổ phiếu, cổ phần đang có xu hướng tăng và dần trở nên phổ biến trong xã hội.

Dưới đây là tổng hợp 07 bản án về tranh chấp liên quan đến cổ phiếu, cổ phần:

1. Bản án 1808/2018/KDTM-ST ngày 30/11/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán cổ phiếu

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh

- Tóm tắt nội dung: Bà N và Công ty CNM do ông Đ làm tổng giám đốc có ký kết Hợp đồng Xúc tiến Đầu tư Cổ phiếu Mobiphone. Nội dung hợp đồng là Công ty CNM bán cho bà N 100.000 cổ phiếu với mệnh giá 20.000 đồng/cổ phiếu thành tiền là 2.000.000.000 đồng, đồng thời Công ty CNM phải hoàn tất thủ tục cho bà N. Nếu đến ngày 31/5/2009, Công ty Mobiphone không công bố cổ phần hóa thì Công ty CNM sẽ trả lại cho bà N số tiền 2.000.000.000 đồng cộng với 100% của số tiền này. Do Công ty CNM không thực hiện hợp đồng và các phụ lục nên cá nhân ông Đ và bà N đã ký Hợp đồng thanh toán nợ ngày 10/12/2012 với nội dung ông Đ phải thanh toán cho bà N 5.200.000.000 đồng.

2. Bản án 121/2019/KDTM-PT ngày 22/10/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, cổ phiếu

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội

- Tóm tắt nội dung: Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng H được thành lập gồm 19 cổ đông với tổng số vốn điều lệ 6.500.000.000 đồng tương đương với 650.000 cổ phiếu. Ngày 12/02/2007, ông Nguyễn Văn H - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty (Bên A) đã ký hợp đồng B là các ông Lê Quốc N, ông Nguyễn Đình Trường S và Trần Xuân L với nội dung chuyển nhượng 100% cổ phần, chiếm 100% tổng số vốn điều lệ của công ty cho bên B với tổng giá trị thanh toán là 13.300.000.000 đồng. Do bên A không thực hiện đúng hợp đồng, ngày 20/12/2008, ông Lê Quốc N có đơn khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn H và Công ty Hà S Buộc ông Nguyễn Văn H và Công ty H phải hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cổ phần cho ông.

3. Bản án 63/2019/KDTM-PT ngày 30/09/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao

- Tóm tắt nội dung: Ngày 01 tháng 11 năm 2012, bà Cung Thị Hồng V ký với AAAbank Hợp đồng tín dụng kiêm cầm cố chứng khoán cấp hạn mức tín dụng 81.000.000.000 đồng (tám mươi mốt tỷ đồng), đã giải ngân, mục đích sử dụng: kinh doanh chứng khoán, thời hạn vay 60 tháng từ ngày 06 tháng 11 năm 2012 đến ngày 06 tháng 11 năm 2017. Bà V đã trả 14.782.500.000 đồng tiền lãi, vi phạm nghĩa vụ trả nợ dù AAAbank đã nhiều lần yêu cầu bà V trả nợ nên AAAbank khởi kiện buộc trả tiền.

4. Bản án 52/2007/KDTM-ST ngày 15/05/2007 về tranh chấp thành viên Công ty với nhau

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội

- Tóm tắt nội dung: Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân có bán 25.000 cổ phiếu ra công chúng trong đó có 14.000 cổ phiếu được bán cho nguyên đơn. Sau đó Công ty Thanh Xuân ra nghị quyết số 186/HĐQT hủy bỏ kết quả bán 25.000 cổ phiếu trên. Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Toà án huỷ bỏ nghị quyết số 186/HĐQT ngày 09.11.2006 của Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân.

5. Bản án 1040/2018/DS-PT ngày 16/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh

- Tóm tắt nội dung: Ngày 02/10/2013, bà Trần Thị Hoàng Y và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ - Chi nhánh Q có ký Hợp đồng dịch vụ thấu chi, với hạn mức tín dụng do Ngân hàng cấp cho bà Y là 800.000.000 đồng. Thời hạn là 12 tháng, lãi suất 1.35%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất thấu chi trong hạn. Sau khi được Ngân hàng cấp hạn mức thấu chi, bà Y đã sử dụng số tiền 799.986.490 đồng. Đến ngày 06/5/2014, hệ thống Ngân hàng tự thu cổ tức của bà Y với số tiền là 19.000.000 đồng và đã trừ vào số tiền lãi. Từ khi bà Y sử dụng tiền thấu chi đến nay, đã không thanh toán cho Ngân hàng thêm bất kỳ khoản tiền gốc và tiền lãi nào. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Hoàng Y phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 24/7/2018 là 1.663.151.537 đồng.

6. Bản án 113/2020/KDTM-PT ngày 17/07/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội

- Tóm tắt nội dung: Năm 2011, VDB-Sở Giao dịch I đã cho Công ty Cổ phần B vay vốn để thu mua, chế biến cà phê xuất khẩu theo 06 Hợp đồng tín dụng xuất khẩu với tổng giá trị 109.800.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Cổ phần tập đoàn Thái Hòa mới thanh toán trả cho Ngân hàng A số tiền nợ gốc là : 1.903.000.000 đồng. Công ty Cổ phần tập đoàn Thái Hòa đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng.Tính đến ngày 20/01/2018, Công ty Cổ phần Tập đoàn Thái Hòa còn nợ Ngân hàng A số tiền nợ gốc là 107.897.000.000 đồng; Nợ lãi là 187.237.694.186 đồng.

7. Bản án 18/2020/DS-ST ngày 07/09/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông Nô - Đăk Nông

- Tóm tắt nội dung: Ngày 07 tháng 08 năm 2018 Phòng giao dịch số 03 - Ngân hàng H Việt Nam chi nhánh Đắk Lắk và ông Hồ Văn S và bà Trần Thị T ký kết Hợp đồng tín dụng số TC601/653. Theo nội dung hợp đồng thì Ngân hàng cho ông S, bà T vay số tiền gốc là 270.000.000đ. Quá trình vay, ông S, bà T chỉ thanh toán được 5.000.000 đồng tiền lãi trong hạn. Đến thời hạn trả nợ là ngày 07 tháng 08 năm 2019, ông S; bà T không thanh toán được nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện

Quang Chính
2008

Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về