08/04/2021 10:07

Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp liên quan đến chuộc lại tài sản đã bán

Tổng hợp 05 bản án về tranh chấp liên quan đến chuộc lại tài sản đã bán

Chuộc lại tài sản đã bán được quy định tại Điều 454 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó bên bán có thể thỏa thuận với bên mua về quyền chuộc lại tài sản đã bán sau một thời hạn gọi là thời hạn chuộc lại.

Thời hạn chuộc lại tài sản do các bên thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì thời hạn chuộc lại không quá 01 năm đối với động sản và 05 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm giao tài sản, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Trong thời hạn này, bên bán có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên mua trong một thời gian hợp lý. Giá chuộc lại là giá thị trường tại thời điểm và địa điểm chuộc lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Dưới đây là 05 bản án về tranh chấp liên quan đến chuộc lại tài sản đã bán:

1. Bản án 84/2020/DS-ST ngày 21/09/2020 về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh B

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Tóm tắt nội dung: “Giấy thỏa thuận về việc quyền chuộc lại tài sản đã bán” ngày 13/3/2019 có nội dung: Trong vòng 60 tháng bà Nguyễn Thị T có quyền chuộc lại nhà, đất tại địa chỉ 21, khu phố Thống Nhất 1, phường Dĩ An, thành phố D, tỉnh B với giá là 1.200.000.000 đồng, thời hạn chuộc tính từ ngày 17/4/2019 đến ngày 17/4/2024.

2. Quyết định giám đốc thẩm 54/2020/DS-GĐT ngày 04/09/2020 về tranh chấp chuộc lại tài sản đã bán

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

- Tóm tắt nội dung: Ông Đào Văn C và bà Trần Thị T chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị G quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số xx đường C, thành phố Q, tỉnh B, thuộc thửa đất số 336 tọa lạc tại Tổ 10, Khu vực 2, phường Nguyễn Văn C, Tp Q thông qua ủy quyền cho Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Q – Phòng giao dịch T đứng tên chuyển nhượng, giá chuyển nhượng là 6.000.000.000đ (Sáu tỉ đồng). Bà G có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Q – Phòng giao dịch T số tiền 3.558.459.772đ, còn lại 2.441.540.228đ trừ vào số tiền cấn trừ nợ sang bà G. Ông Đào Văn C và bà Trần Thị T được quyền chuộc lại tài sản trong thời hạn 02 năm, giá chuộc lại là 5.500.000.000đ (Năm tỉ năm trăm triệu đồng). Hết hạn 02 năm kể từ ngày 28/11/2014, ông Đào Văn C và bà Trần Thị T không chuộc lại thì bà G được sở hữu vĩnh viễn nhà, đất trên.

3. Bản án 04/2017/DS-ST ngày 14/07/2017 về tranh chấp yêu cầu chuộc lại tài sản đã bán và yêu cầu trả tiền công chăm sóc, chăn giữ bò

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Tóm tắt nội dung: Vợ chồng ông H, bà A đồng ý cho bà chuộc lại con bò cái tơ mà chồng bà đã bán với giá 12.000.000đ. Thời gian chuộc là 10 ngày kể từ ngày hôm nay (ngày 14/7/2017), trong thời gian 10 ngày này vợ chồng ông H, bà A không được bán con bò này cho người khác và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với tài sản này.

4. Bản án 151/2018/DS-PT ngày 26/06/2018 về tranh chấp đòi nhà, đất và đòi tài sản

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Tóm tắt nội dung: “Bản cam kết để vay tiền” ngày 15/4/2009 có nội dung vợ chồng ông Bách, bà Bắc vay của bà Yến 600 triệu đồng và hẹn đến ngày 15/5/2009 sẽ hoàn trả cho bà Yến. Bà Yến để ông bà Bách ở lại 03 tháng tại nhà đất đã bán, cho ông bà dùng nhà, đất vay ngân hàng để có tiền chuộc lại nhà; Sau 03 tháng nếu không thực hiện được việc chuộc lại nhà thì ông Bách, bà Bắc trả lại nhà cho bà Yến vô điều kiện.

5. Bản án 434/2020/DS-PT ngày 29/05/2020 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc, mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản

- Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Tóm tắt nội dung: Ngày 14/12/2009, giữa ông Đặng Xuân S và bà Phạm Thị X có thỏa thuận mua bán nhà đất số 222/3 B với giá là 7.500.000.000 đồng. Để thực hiện sự thỏa thuận hai bên đã đến Phòng Công chứng Y, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thủ tục mua bán; sau khi kiểm tra giấy tờ thì công chứng viên không chứng nhận được, vì ông S chưa có giấy chứng nhận độc thân, đặc biệt đối tượng mua bán (nhà đất số 222/3 B) trước đó ông S đã thế chấp cho Ngân hàng, chưa được giải chấp và đang bị cơ quan thi hành án thực hiện biện pháp ngăn chặn.

Thu Linh
155


Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về