21/08/2020 13:14

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh, quy định và bất cập

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh, quy định và bất cập

Quyền cá nhân đối với hình ảnh được pháp luật ghi nhận và bảo vệ có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân, đây là yếu tố tinh thần gắn liền với mỗi cá nhân, hình ảnh của mỗi cá nhân bị xâm phạm không chỉ ảnh hưởng về mặt tinh thần mà còn ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm… Tuy nhiên, quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập.

Con người luôn là trung tâm, là mục tiêu hướng đến đầu tiên của quá trình phát triển, do đó, song song với việc phát triển về mọi mặt của xã hội thì vấn đề quyền con người cũng ngày càng được tôn trọng và bảo vệ. Theo đó, Hiến pháp đã ghi nhận về quyền con người bao gồm: quyền về kinh tế, quyền về chính trị, quyền về dân sự,… Một trong những bộ phận quan trọng của quyền dân sự đã được cụ thể hóa tại Bộ luật Dân sự (BLDS) đó là quyền nhân thân của cá nhân, trong đó có quyền cá nhân đối với hình ảnh…

1.Quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của BLDS 2015

Điều 32 BLDS 2015 quy định quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh như sau:

1.Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2.Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ: a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

3.Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, hiện nay chưa có một quy định nào đưa ra định nghĩa về khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh. Ngay cả trong Điều 32 BLDS 2015 nêu trên quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh cũng chỉ quy định chung chung “cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình” mà không chỉ ra cụ thể quyền nhân thân đối với hình ảnh là gì. Tuy nhiên, qua nội dung của Điều luật này và các Điều luật có liên quan thì có thể hiểu quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân được pháp luật quy định và bảo vệ, liên quan đến việc sử dụng và cho phép sử dụng hình ảnh của chính cá nhân đó.

Hình ảnh là sự phản ánh bên ngoài hình thể của con người, hình ảnh thu được nhờ khí cụ quang học như máy ảnh và con người nhận biết được nó bằng thị giác. Quyền đối với hình ảnh là quyền nhân thân của cá nhân; cá nhân hoàn toàn được phép định đoạt những gì mình muốn với hình ảnh của mình, không một ai được quyền ngăn cản hay được phép xâm phạm. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Quyền này được Hiến định thể hiện thông qua các quyền được tôn trọng, quyền được sử dụng, quyền được bảo vệ khi bị xâm phạm: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”.

Khi chủ thể có hình ảnh bị xâm phạm trên mạng xã hội thì có quyền tự mình hoặc được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm. Trong trường hợp người thực hiện hành vi xâm phạm không có những biện pháp chấm dứt ngay hành vi của mình và ngăn ngừa hậu quả xảy ra, chủ thể có quyền đối với hình ảnh bị xâm phạm được áp dụng các biện pháp khác để bảo vệ quyền hình ảnh của mình.

Khi nghiên cứu quy định tại Điều 32 BLDS 2015 có thể thấy rằng khi sử dụng hình ảnh của một ai đó, yêu cầu phải có được sự chấp thuận của người có hình ảnh được sử dụng và phải trả thù lao nếu có phát sinh lợi nhuận. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ chỉ áp dụng với trường hợp vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng hoặc hoạt động công cộng khác… mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh. Ngoài ra, luật cho phép người bị xâm phạm yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh và bồi thường thiệt hại, kể cả với trường hợp sử dụng trái phép cho mục đích phi lợi nhuận. Đây là những quy định mới nổi bật so với BLDS 2005, giúp cá nhân tăng tính bảo vệ quyền lợi đối với hình ảnh của mình.

2.Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Theo quy định của BLDS 2015 thì việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp ngoại lệ là khi sử dụng hình ảnh của cá nhân không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ trong trường hợp hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ít công cộng hoặc hoạt động công cộng khác. Qua nghiên cứu các quy định của BLDS hiện hành chưa có quy định cụ thể nào khái niệm rõ thế nào là sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc hoạt động công cộng khác. Từ đó, khi xảy ra tranh chấp thì rất khó để xác định có hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh hay không?

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Luật chưa quy định rõ hoặc hướng dẫn như thế nào là vì mục đích thương mại, căn cứ vào tiêu chí nào để xác định những hành vi sử dụng hình ảnh của cá nhân vì mục đích thương mại. Nguyên tắc xét xử nếu pháp luật không quy định thì ưu tiên áp dụng phong tục tập quán tại địa phương, nếu không có phong tục tập quán thì áp dụng tương tự pháp luật sau đó mới đến lẽ công bằng. Do đó, có thể thấy, xét xử những vấn đề chưa có quy định pháp luật mang nặng tính chủ quan, đặc biệt là nhìn nhận vấn đề chủ quan của Thẩm phán xét xử trực tiếp vụ việc.

Hiện nay, với thời đại công nghệ phát triển việc sử dụng hình ảnh của cá nhân với nhiều hình thức đa dạng, chỉ bằng một vài thao tác đơn giản là có thể sử dụng hình ảnh của người khác một cách dễ dàng, đặc biệt là trên môi trường mạng xã hội. Việc sử dụng hình ảnh của người khác chủ yếu dưới hai dạng là nhằm mục đích thương mại và phi thương mại. Hành vi sử dụng hình ảnh của người khác nhằm mục đích thương mại gây ảnh hưởng đến quyền lợi về kinh tế của người bị xâm phạm, tuy nhiên, với mục đích phi thương mại nhưng ảnh hướng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân cũng là vấn đề quan trọng và đang được quan tâm hiện nay.

Khi xảy ra sự việc xâm phạm quyền đối với hình ảnh của cá nhân thì việc xác định “trả thù lao cho người có hình ảnh” hiện nay chưa có một văn bản nào quy định cụ thể, do đó, nếu có tranh chấp về mức thù lao mà các bên không thỏa thuận được cũng là một khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết. Khi giải quyết tranh chấp về vấn đề này, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ vào quy định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết, theo quy định của BLDS 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Về nguyên tắc, thiệt hại được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Tuy nhiên, việc xác định thiệt hại trong trường hợp này rất khó khăn, đặc biệt là trên môi trường mạng xã hội, vì nó là dịch vụ để kết nối nhiều người không phân biệt không gian, thời gian, như vậy người này truyền cho người kia dễ dàng, làm hình ảnh bị lan truyền nhanh chóng.

Việc xử lý chủ thể đăng những hình ảnh trái phép hoặc những hình ảnh gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì việc xác định họ không có lỗi hoặc lỗi vô ý để giảm mức bồi thường là rất khó. Bên cạnh đó, có thể xảy ra tình huống người vi phạm là người vi phạm thứ cấp, trực tiếp chia sẽ những hình ảnh đó, nghĩa là họ mặc dù không biết hay không liên quan đến chủ thể có hình ảnh, nhưng họ lại là người gián tiếp làm cho những thông tin đó được lan truyền rộng rãi, dẫn đến hậu quả nặng nề hơn. Trong trường hợp này, chủ thể có hình ảnh bị xâm phạm có thể khởi kiện những người này liên đới chịu trách nhiệm không? Nếu có thì cơ chế thực hiện như thế nào thì hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể.

Tất cả các quyền dân sự của cá nhân đều được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Khi hành vi xâm phạm xảy ra thì hai bên có thể tự thỏa thuận. Nguyên tắc hòa giải luôn được pháp luật dân sự khuyến khích. Và chỉ khi hai bên không thống nhất ý chí được với nhau thì tranh chấp mới xảy ra và phát sinh thủ tục tố tụng. Tòa án là cơ quan xét xử các vụ việc này và Tòa án chỉ thực sự tiến hành xét xử khi có đơn yêu cầu của đương sự. Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 BLDS 2015, việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận, nếu các bên không thể thỏa thuận thì Tòa án sẽ xác định một mức hợp lý nhưng không vượt quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Tuy nhiên, việc vi phạm đến quyền về hình ảnh của cá nhân gây ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân vô cùng lớn hoặc nguy hiểm hơn khi hành vi sử dụng hình ảnh đó để uy hiếp tinh thần, cưỡng đoạt tài sản, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy… Với quy định mức bồi thường không vượt quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì không phản ánh hết và bù đắp được những thiệt hại mà chủ thể phải gánh chịu, vì người bị xâm phạm quyền về hình ảnh tổn thất rất lớn về tinh thần. Do đó, mức bù đắp tổn thất tinh thần cần được xác định một cách độc lập cho từng người, từng trường hợp cụ thể với những mức bồi thường cụ thể khác thay vì phải giới hạn không vượt quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Đối với các trường hợp đăng báo vi phạm quyền hình ảnh thì khi phát hiện hành vi vi phạm thì số báo phát hành quá lớn, hay hình ảnh được làm ra thành rất nhiều bản phát cho nhiều người hoặc được đăng công khai trên môi trường mạng và đã có rất nhiều lượt xem, chia sẻ, việc thu hồi, tiêu hủy ở đây rất khó khi thực hiện. Tuy nhiên, đối với những loại hình ảnh mang tính chất truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy nếu có thu hồi, tiêu hủy thì hình ảnh đã bị lộ, nhiều người đã xem, lưu vào đầu óc của họ, làm sao tiêu hủy thu hồi trong đầu óc của mỗi con người. Các chủ thể có hình ảnh bị xâm phạm thì có quyền tự mình hoặc được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, nhưng khi yêu cầu họ không thực hiện hay các trường hợp yêu cầu bồi thường nhưng người vi phạm không có tài sản để bồi thường, đây cũng là các vấn đề đặt ra hiện nay. Như vậy, luật cần quy định rõ các biện pháp chế tài đối với các trường hợp cụ thể để đảm bảo thực hiện có hiệu quả hơn các quyền của chủ thể có hình ảnh bị xâm phạm, đồng thời răn đe người vi phạm.

Trên cơ sở phân tích các nội dung trên, chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm quy định tại khoản 1 Điều 32 BLDS 2015 về quyền của cá nhân đối với hình ảnh như sau:

“Việc sử dụng trái phép hình ảnh người khác vào mục đích thương mại thì phải bồi thường, mức bồi thường do hai bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì do Tòa án quyết định.

Bên cạnh đó, BLDS 2015 cần quy định rõ hơn về khái niệm mục đích thương mại và phi thương mại, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng và hoạt động công cộng khác. Với quy định trên sẽ giúp hạn chế thấp nhất những thiệt hại về quyền nhân thân nói chung và quyền hình ảnh của cá nhân nói riêng./.

Nguồn:  Theo Tạp chí Tòa án

581


Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về