+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.
+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Trích dẫn nội dung: “Về tình tiết không phải chứng minh: Bản chính giấy vay tiền ngày 31/3/2017; Vi bằng số 0376.2019/VB-TPLHN ngày 23/05/2019 của Văn phòng Thừa phát lại Hà Nội, Đĩa DVD-R kèm theo;”.
+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.
+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Trích dẫn nội dung: “Như vậy, vi bằng là chứng cứ để các bên chứng minh có việc giao dịch mua bán nhà ngày 25/8/2013 và số tiền các bên đã giao nhận với nhau, không phải là hợp đồng mua bán nhà.”.
+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.
+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Trích dẫn nội dung: "“Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”. Qua đó, có căn cứ xác định có việc thỏa thuận giữa ông P, bà Đ và ông C theo Văn bản thỏa thuận ngày 02-6-2016”.
+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.
+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Trích dẫn nội dung: “Ông L cung cấp chứng cứ cho Tòa án gồm Vi bằng lập ngày 26/7/2016 tại Văn phòng thừa phát lại Dĩ An (có hình ảnh việc ông L, ông K ký kết Vi bằng và việc giao nhận tiền”.
+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.
+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Trích dẫn nội dung: “việc lập vi bằng chỉ mang ý nghĩa ghi nhận lại sự kiện đã diễn ra, không có tính chất pháp lý thay thế văn bản công chứng chứng thực, không làm phát sinh quyền sở hữu của các bên đương sự và Tòa án chỉ sử dụng vi bằng là chứng cứ trong việc giải quyết vụ án.”.
+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.
+ Cơ quan xét xử: Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Trích dẫn nội dung: “Chị H cung cấp chứng cứ chứng minh là vi bằng số 14/2017/VB.TPL ngày 28/02/2017 do Thừa phát lại Châu Đốc lập, thể hiện nội dung các bên thỏa thuận “số tiền còn lại 30.000.000 đồng, D và N trả dần 500.000 đồng/tháng cho đến khi dứt nợ bắt đầu trả từ tháng 04/2017”.
+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.
+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Trích dẫn nội dung: “đến thời gian thông báo là ngày 31/3/2017, bà Th vẫn không đến Phòng công chứng Sở Sao để ký kết hợp đồng chuyển nhượng, thể hiện bằng vi bằng số 98/VB - TPL ngày 31/3/2017”.
+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.
+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Trích dẫn nội dung: “Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào vi bằng để xác định: Công ty đã có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà T không đúng theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Lao động, nên buộc Công ty phải bồi thường các khoản tiền lương, phụ cấp cho bà T với tổng số tiền 176.524.000 đồng là có căn cứ”.
+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.
+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Kết quả giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Trích dẫn nội dung: “Căn cứ Vi bằng số 342/VB-TPLQ1 và tài liệu kèm theo có đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Thanh T1 và các bà Lư Thị Kim L2, Huỳnh Thị Đ, Bành Thị Kim M, Huỳnh Thị L3 và Nguyễn Thị L4 đã giao kết hợp đồng dịch vụ.”.