14/04/2021 14:14

07 bản án về hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật

07 bản án về hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật

Điều cấm của pháp luật là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện hành vi nhất định và việc vi phạm điều cấm có thể dẫn đến hậu quả nhất định trong đó có hợp đồng bị vô hiệu. Vậy trong thực tiễn xét xử tòa án áp dụng quy định này như thế nào?

Sau đây là Tổng hợp các bản án hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, các bạn cùng tham khảo.

1. Bản án 17/2017/DS-ST ngày 11/08/2017 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Huyện Đất Đỏ - Bà Rịa - Vũng Tàu

+ Tóm tắt nội dung: Năm 2004 bà N có nhận chuyển nhượng QSD đất của bà Danh T 15.000.000đ, hợp đồng chỉ viết giấy tay ghi ngày 03-02-2004 được tổ dân cư xác nhận, thời điểm này ông Ch chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N đã giao đủ tiền và nhận đất nhưng chưa sử dụng. Năm 2005 ông Ch được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà N yêu cầu được tách thửa nhưng không được do diện tích nhỏ. Đầu năm 2016 bà N chuẩn bị xây nhà ở cho con trên đất thì bị bà X ngăn chặn, bà X chấp nhận trả lại cho bà N 50.000.000đ, nhưng bà N không đồng ý, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng buộc bà X giao đất. Ngày 05-5-2017 bà N có đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu giải quyết hậu quả nếu hợp đồng bị vô hiệu buộc bà X phải giao lại cho bà N số tiền như đã hứa trước đây là 50.000.000đ.

2. Bản án 33/2018/DS-ST ngày 29/05/2018 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Quận 2 - Hồ Chí Minh

+ Tóm tắt nội dung: Theo giấy tờ mua bán đất, ngày 15/9/2015, ông Huỳnh Bá D và bà Huỳnh Ngọc A ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà T diện tích đất 605m2 với giá 3.680.00.000đồng. Bà T đặt cọc số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, số tiền còn lại sẽ thanh toán vào ngày 15/01/2016.  Sau khi tìm hiểu và biế việc chuyển nhượng là không hợp pháp nên bà T đến nhà ông D và bà A để yêu cầu trả lại tiền cọc nhưng ông D và bà A không đồng ý trả lại. Nên khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Bá D và bà Huỳnh Ngọc A trả tiền cọc cho bà.

3. Bản án 178/2019/DS-PT ngày 29/07/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng dự án

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Bình Dương

+ Tóm tắt nội dung: Ngày 15/6/2015, ông Lê Văn H, ông Đặng Xuân M ký hợp đồng chuyển nhượng dự án với ông Kiều Đại B (người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH C (viết tắt Công ty C). Theo nội dung hợp đồng: Công ty C (bên A) chuyển nhượng cho ông H, ông M (bên B) toàn bộ dự án sản xuất kinh doanh cùng với quyền sử dụng đất diện tích 5.364,016m2 và tài sản gắn liền trên đất với giá 4.500.000.000 đồng; bên B đặt cọc cho bên A số tiền 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, công ty không thực hiện đúng thỏa thuận. Nay, ông H, ông M yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng buộc Công ty C trả lại tiền cọc 200.000.000 đồng và bồi thường 3.000.000.000 đồng do vi phạm hợp đồng, tổng cộng 3.200.000.000 đồng.

4. Bản án 05/2018/DS-PT ngày 18/01/2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Nam Định

+ Tóm tắt nội dung: Ngày 20 tháng 12 năm 1985 ông D và bà T đã thỏa thuận chuyển nhượng cho bà toàn bộ diện tích đất vườn với số tiền 20.000đ. Chính ông Lê Văn D là người viết “Giấy nhượng đất” và bà đã thanh toán đủ 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) cho ông D và bà T. Năm 2016, gia đình ông D phá bếp cũ và vợ chồng con trai ông D là NLQ2 và NLQ3 xây nhà lấn sang một phần phía Tây của thửa đất bà đã mua của ông D, bà T. Vì vậy, bà yêu cầu Toà án giải quyết buộc gia đình ông Lê Văn D mà trực tiếp là vợ chồng NLQ2 phải trả lại cho bà diện tích đất đã lấn chiếm. Do vợ chồng NLQ2 đã xây nhà kiên cố, nên bà chấp nhận lấy bằng giá trị.

5. Bản án 16/2017/DS-ST ngày 16/10/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm - Hà Nội

+ Tóm tắt nội dung: Ngày 01/02/1996 ông L và Công ty V ký Hợp đồng mua bán nhà số 07/HĐ về việc mua bán căn hộ số 08 nhà ở 1 tầng tại khu tập thể Công ty V với tổng diện tích sàn 56,2m2, giá trị Hợp đồng 93.350.000đ;. Công ty đã cấp phiếu thu số 07 ngày 03/02/1996, Hợp đồng và thiết kế nhà cho ông. Tuy nhiên, Công ty không xây nhà và giao nhà cho ông theo đúng Hợp đồng. Do nhà xây đúng với diện tích và thiết kế theo Hợp đồng ông ký nên dù không đúng vị trí nhưng ông cũng không có ý kiến gì.Nay ông yêu cầu: Tòa án buộc Công ty cổ phần PT tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán nhà số 07.

6. Bản án 61/2018/DS-PT ngày 02/04/2018 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Kiên Giang

+ Tóm tắt nội dung: Năm 2015, ông L ra huyện P đến nhà bà T bên gặp nhau ký hợp đồng đặt cọc mua bán đất, thửa đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 422348 là 13 tỷ đồng/4.000m2. Ông đã đặt cọc cho bà T số tiền 200.000.000 đồng, hai bên cam kết là chậm nhất trong thời gian ba tháng kể từ ngày nhận tiền cọc bà T phải ra Công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông. Đến ngày 12/4/2015, ông đến gặp bà T nhưng sự việc không thành, bà T đã chuyển khoản trả lại cho ông tiền cọc 140.000.000 đồng. Ông mới tìm hiểu được diện tích đất ông đặt cọc với bà T không phải đất thuộc quyền sở hữu của bà T mà do một người khác đứng tên là ông Hà Quốc Tr, ông gặp ông Tr, thì ông Tr xác định chưa bao giờ chuyển nhượng diện tích 4.000m2, tọa lạc ấp Cửa Lấp, xã T, huyện P, tỉnh Kiên Giang cho ai cả. Nay ông yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đặt cọc mua bán đất ngày 12/01/2015, yêu cầu bà T trả cho ông 60.000.000 đồng tiền cọc, bồi thường 200.000.000 đồng do bà T không tiếp tục thực hiện hợp đồng.

7. Bản án 123/2019/DS-PT ngày 26/11/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu

+ Tóm tắt nội dung: Ngày 12-11-2010, ông Mai Quang K và ông Nguyễn Thanh S ký hợp đồng về việc ông S chuyển nhượng cho ông K lô đất diện tích 253 m2 với giá chuyển nhượng là 1.138.500.000 đồng, ông đã giao đủ số tiền này cho ông S, có ông Trương Ngọc T làm chứng. Tại thời điểm chuyển nhượng, ông biết nguồn gốc diện tích đất trên là của ông Trịnh Văn H chuyển nhượng cho ông S nhưng chưa sang tên. Vì vậy, ông S cam kết với ông là sẽ cùng ông H lo mọi thủ tục giấy tờ, chi phí để sang tên ông K. Tuy nhiên, từ khi chuyển nhượng tới nay, nhiều lần ông yêu cầu ông S thực hiện nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng, nhưng ông S không thực hiện. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 12-11-2010 giữa ông và ông S.

Quang Chính
3315


Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về