22/04/2021 15:23

07 bản án về hợp đồng giả tạo trong giao dịch dân sự

07 bản án về hợp đồng giả tạo trong giao dịch dân sự

Giao dịch giả tạo là giao dịch nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác và theo luật sẽ bị tuyên vô hiệu, giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực. Vậy trong thực tiễn xét xử, tòa án sẽ giải quyết những giao dịch này như thế nào?

Sau đây là Tổng hợp các bản án về hợp đồng giả tạo trong giao dịch dân sự, các bạn cùng tham khảo.

1. Bản án 63/2019/DSST ngày 31/07/2019 về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vay tài sản

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Quận Ninh Kiều - Cần Thơ

+ Tóm tắt nội dung: Vào ngày 17/4/2017, nguyên đơn có cho bà Trần Thị Th và ông Đỗ Thanh H vay số tiền 100.000.000 đồng. Để đảm bảo khoản vay này thì ngày 17/4/2017 bà Th và ông Ch ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bà Nguyễn Thị Năm đứng tên ủy quyền cho bà Th ký chuyển nhượng, thửa đất 509, tờ bản đồ số 04, diện tích 183m2. Nay yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Năm có đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị Th với ông Trần Văn Ch ngày 17/4/2017 vô hiệu và buộc bà Trần Thị Th cùng ông Đỗ Thanh H trả lại số tiền 90.000.000 đồng gốc và không yêu cầu tính lãi.

2. Bản án 393/2019/DSST ngày 27/08/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Quận 11 - Hồ Chí Minh

+ Tóm tắt nội dung: Trước đây, bà Hồ Thị Ngọc A có cho ông Trần Ngọc M vay số tiền 150.000.000 đồng. Để làm tin, ông M đã giao cho bà A giữ các giấy tờ như sau: Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, - Bản chính. Đồng thời, để đảm bảo cho cho việc trả số tiền nợ trên, ông Trần Ngọc M và bà Hồ Thị Ngọc A có ký thêm “Hợp đồng nhận cọc mua bán nhà”, trong đó hai bên xác định đã giao nhận số tiền cọc 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 18/5/2017, đây chính là số tiền ông M đã vay theo Hợp đồng vay tiền.

3. Bản án 90/2019/DS-PT ngày 02/04/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Tiền Giang

+ Tóm tắt nội dung: Vào ngày 28/6/2017, ông bà có vay của bà Phan Thị Kim H số tiền là 02 tỷ đồng, lãi suất vay 80.000.000đồng/tháng, trả lãi hàng tháng, với điều kiện là ông bà và bà H làm 01 hợp đồng giả cách là chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 12 thửa đất do ông Lương Thiện Th đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm giấy tay cam kết trong thời hạn 12 tháng sẽ chuộc lại quyền sử dụng đất, với điều kiện bà H không được cầm cố, sang tên cho bà H, chuyển nhượng cho người khác. 12 thửa đất. Sau đó bà H có bán số đất trên thì ông không đồng ý và đòi gủy hợp đồng chuyển nhượng.

4. Bản án 27/2020/DS-ST ngày 19/10/2020 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Huyện Phong Điền - Cần Thơ

+ Tóm tắt nội dung: Vào khoảng tháng 02 năm 2010, ông Nguyễn Văn B có nhờ ông Lê Tấn K là làm hồ sơ vay Ngân hàng giùm số tiền 30.000.000đ và đồng thời ông B đưa cho ông K 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông K đã dùng 03 giấy chứng nhận này thế chấp cho ông Ngô Đình T để vay số tiền 150.000.000đ nhưng ông K chỉ đưa cho ông B số tiền 30.000.000đ. Sau khi nhận tiền, đến ngày 10-8-2010, ông B đã trả cho Ông T số tiền 18 triệu đồng, còn số tiền 120 triệu của ông K thì chưa trả được cho Ông T. Đến ngày 19-8-2010, do đến hạn trả nợ nhưng ông K chưa có tiền trả cho Ông T nên Ông T và ông K đến nhà ông B và làm sẵn giấy vay tiền nội dung thể hiện ông K vay của ông B số tiền 120.000.000 đồng, mục đích là để Ông T cho ông K nợ thêm 03 tháng nữa. Sáng ngày 20-8-2010, Ông T kêu vợ chồng ông B đến Phòng Công chứng để chứng thực giấy vay tiền thì mới trả 03 giấy chứng nhận QSDĐ cho bị đơn, nhưng khi đến Phòng công chứng thì Ông T đưa bị đơn ký vào hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ (do bị đơn không biết đọc chữ) nên bị đơn không hay biết.

5. Bản án 139/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất, hợp đồng vay tài sản

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai

+ Tóm tắt nội dung: Do có sự quen biết nhau nên khi ông P hỏi vay số tiền 400.000.000 đồng để làm ăn trong thời hạn 01 năm. Vì không nắm rõ công việc kinh doanh của ông P lời lãi thế nào nên ông H yêu cầu cần có tài sản thế chấp để làm tin. Hai bên đã lập hợp đồng mua bán nhà đất ngày 01/03/2015 để bảo đảm cho khoản vay với nội dung: ông P đồng ý bán cho ông H căn nhà tọa lạc tại số 118/9/9B, tổ 35C, khu phố 11, phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, nhà có diện tích 100m2 Thế nhưng quá hạn trả nợ đã lâu mà ông P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà cũng không giao nhà như cam kết nên ông H khởi kiện.

6. Bản án 32/2018/DS-PT ngày 25/09/2018 về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền và bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai

+ Tóm tắt nội dung: Vào ngày 05/3/2015 bà và vợ chồng ông X và bà L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 100.000m2, sau khi ký hợp đồng, ngày 10/5/2015 bà thỏa thuận mượn tiền của Công ty Đ là 2.200.000.000 đồng để chuyển cho vợ chồng ông X, bà L thực hiện hợp đồng này. Đến ngày 12/5/2015, bà đã nhờ nhân viên Công ty Đ chuyển khoản số tiền 2.200.000.000 đồng cho ông X bà L theo “ủy nhiệm chi” ngày 12/5/2015 thì trong đó bao gồm 2.200.000.000 đồng là tiền bà mượn của Công ty chuyển trả cho ông X, bà L thực hiện hợp đồng này; và 50.200.000 đồng là số tiền Công ty Đ chuyển theo biên bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền canh tác đất và đền bù cây cối, hoa màu trên đất đối với diện tích 178.600m2 mà Công ty Đ ký với ông X vào ngày 11/5/2015.

7. Bản án 121/2019/DS-PT ngày 22/07/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ

+ Tóm tắt nội dung: ngày 15/01/2011 ông T, bà H có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bị đơn ông T2 tại Văn phòng công chứng Trần Mạnh H3, ông, bà đã giao đầy đủ 100.000.000đ cho ông T2 để nhận chuyển nhượng phần đất có diện tích 1888m2. Các bên chỉ làm hợp đồng, chưa làm thủ tục sang tên. Nay ông, bà không yêu cầu tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng đất mà yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đã ký kết là vô hiệu và ông T2 phải trả lại cho ông, bà số tiền 100.000.000đ cộng lãi suất phát sinh từ ngày 15/01/2011 đến khi xét xử sơ thẩm. Do yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nên nguyên đơn không yêu cầu giám định, đo đạc định giá đất.

Quang Chính
1111


Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về