Quyết định giám đốc thẩm 56/2014/DS-GĐT ngày 24/02/2014 về vụ án ly hôn và chia tài sản chung

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 56/2014/DS-GĐT NGÀY 24/02/2014 VỀ VỤ ÁN LY HÔN VÀ CHIA TÀI SẢN CHUNG

Họp phiên tòa ngày 24/2/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án “Ly hôn và chia tài sản chung” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trịnh Bích Hải, sinh năm 1976; trú tại: tổ 3, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh Hùng, sinh năm 1972; trú tại: tổ 3, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

NHẬN THẤY

Chị Hải và anh Hùng kết hôn tháng 2/1995, có đăng ký kết tại UBND xã Tân Quang, huyện Bắc Quang. Chung sổng đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn. Ngày 29/3/2010 chị Hải khởi kiện xin ly hôn anh Hùng .

Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thành Trung, sinh ngày 30/8/1995, cháu Nguyễn Ngọc Hiếu, sinh ngày 6/8/2004. Chị Hải có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu, yêu cầu anh Hùng cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng/cháu/tháng (tại phiên tòa sơ thẩm chị không yêu câu anh Hùng cấp dưỡng nuôi con nữa). Anh Hùng cũng có nguyện vọng nuôi cả hai con, không yêu cầu chị Hải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung:

Chị Hải trình bày:Vợ chồng có tài sản chung là 01 ngôi nhà xây mái bằng diện tích 165 m2 được xây dựng trên diện tích đất 183 m2 đã được cấp giấỵ chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Trịnh Bích Hải tại tổ 2 khu phố Quang Vinh (nay là tổ dân phố số 3) thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang. Chị có nguyện vọng được sử dụng nhà, đất và hoàn lại tiền chênh lệch tài sản cho anh Hùng.

Ngoài ra, chị có mua một bảo hiểm nhân thọ của hãng PRUDENTIAL mang tên chị là người thụ hưởng, đóng phí bảo hiêm trong vòng 20 năm (mỗi 1năm đóng 2.168.000 đồng, hiện đã đóng được 3 năm với tổng số tiền là 6.504.000 đồng). Chị đề nghị Tòa án giải quyết để chị tiếp tục thực hiện hợp đồng và trả cho anh Hùng Vi phí bảo hiếm đã nộp.

Anh Hùng trình bày: Vợ chồng chỉ có tài sản chung là ngôi nhà xây mái bằng 165 m2 trên diện tích đất 183 m2. Còn 183 m2 đất là do bố mẹ anh mua của gia đình ông Phúc, bà Thảo cho anh chị sau khi anh chị kết hôn, do vậy đất là tài sản của bố mẹ anh, không phải là tài sản chung của vợ chồng anh.

Tại biên bản định giá ngày 15/9/2010 thể hiện giá trị nhà đất là 391.395.400 đồng.

Ngoài ra, anh Hùng còn trình bày là vợ chồng anh còn có khối tài sản khoảng 130.000.000 đồng gồm 6 chỉ vàng bố mẹ anh cho vợ chồng trong ngày cưới; ngày 17/3/2010 chị Hải lấy 30.000.000 đồng tiền mặt từ chị gái anh là Đỗ Thanh Xuân; 70.000.000 đồng vợ chồng tiết kiệm có sẵn trong nhà cùng một số bảo hiểm ô tô xe máy do chị gái anh làm đại lý bảo hiểm nên chị Hải cầm đem bán anh không xác định được giá trị, và chị Hải có tham gia mua bảo hiểm của hãng PRUDENTIAL anh không xác định được các điêu khoản của hợp đông bảo hiểm. Chị Hải không thừa nhận có số tài sản này.

Quan điểm của anh Hùng về việc giải quyết tài sản trên là: đối với tài sản 130.000.000 đồng chị Hải mang đi anh yêu cầu chia đôi; về tài sản là nhà, đất thì chia đều cho hai con là Nguyễn Thành Trung và Nguyễn Ngọc Hiếu.

Tại Bản án sơ thẩm số 13/2010/HNGĐ- ST ngày 28/9/2010, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã quyết định:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Bích Hải được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh Hùng.

2. Về con chung: Chị Trịnh Bích Hải là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục các cháu Nguyễn Thành Trung, sinh ngày 30/8/1995 và Nguyễn Ngọc Hiếu, sinh ngày 6/8/2004 đến khi cháu Trung, cháu Hiếu đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Mạnh Hùng không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường họp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu tới việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

3. Về tài sản chung:

Chị Trịnh Bích Hải được sử dụng nhà đất gồm: 01 ngôi nhà xây mái bằng 165 m2 trên diện tích đất 183 m2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V006585 ngày 05/07/2002 mang tên chủ hộ Trịnh Bích Hải tại tổ 2, khu phố Quang Vinh (nay là tổ dân phó số 3) thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

Chị Trịnh Bích Hải tiếp tục thực hiện họp đồng bảo hiểm nhân thọ số 71918530 ngày 12/11/2007 với hãng bảo hiểm nhân thọ.

Chị Trịnh Bích Hải có nghĩa vụ thanh toán cho anh Nguyễn Mạnh Hùng số tiền 199.125.300 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.Ngày 8/10/2010 anh Nguyễn Mạnh Hùng kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên, với nội dung: Không đồng ý ly hôn, không yêu cầu định giá, vợ anh là chị Hải không đưa ra được các chứng cứ, giấy tờ hợp pháp, tự bỏ nhà ra đi sau đó đòi ly hôn và tranh chấp. Do đó, anh không chấp nhận quyết định của bản án sơ thẩm.

Tại Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm sổ 05/2010/QĐ-PT ngày 16-12- 2010, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang đã quyết định:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 12/2010/TLPT- HNGĐ ngày 02/11/2010 về việc tranh chấp ly hôn giữa:

Nguyên đơn: Trịnh Bích Hải.

Địa chỉ: tổ 3, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

Bị đơn: Nguyễn Mạnh Hùng.

Địa chỉ: tổ 3, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

2. Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2010/HNGĐ- ST ngày 28/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thấm còn tuyên về án phí

Sau khi ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, ngày 7/9/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang có Công văn số 09/BC- ĐN đề nghị xem xét lại Bản án sơ thẩm số 13/2010/HNGĐ- ST ngày 28/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định số 266/2013/KN-HNGĐ-LĐ ngày 15/7/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 05/2010/QĐ-PT ngày 16/12/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang. Đe nghị Tòa Dân sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, huỷ Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 05/2010/QĐ-PT ngày 16-12-2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang và Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm sổ 13/2010/HNGĐ-ST ngày 28-9-2010 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiếm sát nhân dân tối cao cũng nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Về thủ tục tố tụng:

Anh Hùng khai diện tích 183 m2 đất tại tổ 2 khu phố Quang Vinh (nay là tố dân phố số 3) thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang là của bố mẹ anh mua cho vợ chồng sau khi anh chị kết hôn. Chị Hải cũng có lời khai khẳng định “Trên danh nghĩa là bố mẹ tôi mua cho mảnh đất đó, nhưng thực tế là tiền chồng tôi đi làm ra và mang về gửi mẹ, chồng tôi đi làm thì tôi ở nhà, vun vén nhà cửa chăm sóc con cái, mỗi người một việc để vun vén xây dựng gia đình”. Như vậy, cả anh Hùng, chị Hải đều thừa nhận diện tích 183 m2 đất là của bố mẹ anh Hùng mua cho vợ chồng. Tòa án các cấp không đưa bố mẹ anh Hùng tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để xác minh làm rõ nguồn gốc đất tranh chấp là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Ngàỵ 14/12/2010 Tòa án cấp phúc thẩm giao quyết định hoãn phiên tòa (Trong quyêt định có ghi thời gian, địa điêm mở lại phiên tòa phúc thẩm lần thứ 2) cho con trai anh Hùng là cháu Nguyễn Thành Trung, sinh năm 1995. Tại thời điêm giao quyêt định, cháu Trung chưa đủ năng lực hành vi dân sự nên không được tính là triệu tập họp lệ đôi với anh Hùng theo quy định tại Điều 152 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, Tòa án câp phúc thâm chưa tông đạt họp lệ giấy triệu tập phiên tòa lân 2 cho anh Hùng. Vì vậy, Quyết định đình chỉ xét xử phúc thấm vụ án dân sự của Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng.

Về nội dung: Sau khi xét xử sơ thẩm, anh Nguyễn Mạnh Hùng đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thâm, do đó cần phải xem xét giải quyết lại cả ba mối quan hệ trong vụ án là quan hệ hôn nhân, quan hệ con cái, quan hệ tài sản.

Về tài sản: anh Hùng, chị Hải đều thừa nhận diện tích 183 m2 đất là của bố mẹ anh Hùng mua cho vợ chồng sau khi anh chị kết hôn. Do đó, khi đã có đủ căn cứ xác định diện tích đất trên là tài sản chung của vợ chồng thì phải tính công sức của anh Hùng nhiều hơn. Tòa án các cấp chia đôi giá trị cả đất và nhà là không đảm bảo quyền lợi cho anh Hùng. Hơn nữa, các tài liệu trong hồ sơ vụ án không thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm có hỏi hay xem xét đến nhu cầu chỗ ở của anh Hùng, trong khi đó nhà rộng 165 m2, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chia cho chị Hải được sử dụng cả nhà và đất, chị Hải phải thanh toán cho anh Hùng 199.125.300 đồng tiền chia tài sản chung trong khi chưa làm rõ nhu cầu về chỗ ở của mỗi bên là không đúng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hải khai “ngoài diện tích đất có trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng tôi còn có đất vườn và đất đồi ở phía sau, vì là đất đồi và đất vườn nên tôi không làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...”. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xem xét, đo đạc diện tích đất thực tế, lập bản đồ xem xét hiện trạng nhà đất (hồ sơ không có tài liệu này) và xác định rõ diện tích đất nào đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất nào chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào diện tích đất được cấp tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để định giá và chia tài sản chung là không đúng. Tại biên bản định giá ngày 15/9/2010 Hội đồng định giá có ghi “Đo đạc xác định diện tích đất thực tể 183 m2 phù họp với diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng sổ V006585 cấp ngày 05/07/2002”. Thực tế, theo công văn kiến nghị của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang thì: vị trí nhà đất tuyên trong bản án không trùng khóp với vị trí nhà đất trên thực địa, cụ thể: ngôi nhà diện tích 165 m2 nằm trên phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong khi Tòa án cấp sơ thẩm tuyên ngôi nhà trên nằm trên diện tích 183 m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât có diện tích bao nhiêu m2, đât vườn theo chị Hải khai chưa được làm rõ.

Mặt khác, tại biên bản định giá ngày 15/9/2010, Hội đồng định giá định giá đất căn cứ vào giá đất do ủy ban nhân dân quy định nhưng chưa làm rõ giá quy định của ủy ban có phù họp với giá thị trường hay không là không đúng theo hướng dẫn tại Công văn số 92/2000/KHXX ngày 21-7-2000 của Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, làm thiệt hại đến quyền lợi của anh Hùng. Do đó Hội đồng xét xử giám đốc thẩm thấy kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ.

Vì các lẽ trên; căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Huỷ Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 05/2010/QĐ-PT ngày 16- 12-2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang và Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 13/2010/HNGĐ-ST ngày 28/09/2010 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vê vụ án “Ly hôn và chia tài sản chung” giữa chị Trịnh Bích Hải với anh Nguyễn Mạnh Hùng.


279
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 56/2014/DS-GĐT ngày 24/02/2014 về vụ án ly hôn và chia tài sản chung

Số hiệu:56/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/02/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về