Quyết định giám đốc thẩm 516/2014/DS-GĐT ngày 16/12/2014 về vụ án tranh chấp kiện đòi tài sản

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 516/2014/DS-GĐT NGÀY 16/12/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI TÀI SẢN

Họp phiên tòa ngày 16/12/2014, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp kiện đòi tài sản” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị Hồng, sinh năm 1930; trú tại: số nhà 38 Lê Thần Tông - Quảng Xá 1, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Ông Nguyễn Anh Tuấn, sinh năm 1957; trú tại: số nhà 38 Lê Thần Tông - Quảng Xá 1, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Hương, sinh năm 1960; trú tại: Số nhà 38 Lê Thần Tông - Quảng Xá 1, phường Đông Vệ. thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN THẤY

Theo nguyên đơn cụ Hồng trình bày: Cụ lấy cụ Nguyễn Văn Thới làm vợ hai từ năm 1954 (cụ Thới lấy cụ Nguyễn Thị Lức là vợ cả từ năm 1952 và cụ Lức là chị gái ruột của cụ Hồng). Việc cụ Hồng lấy cụ Thói là được sự đồng ý của bố mẹ cụ và hai bên nội ngoại, kể từ ngày về sống với cụ Thới, hai chị em cùng chung sống hòa thuận và sinh được 04 người con. Cụ Thới cụ Lức sinh được 03 người con gồm: Bà Nguyễn Thị Cúc sinh năm 1953; ông Nguyễn Anh Tuấn sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Hoa sinh năm 1963. Còn cụ và cụ Thới sinh được hai người con, một người con trai đã mất, còn một người con gái là Nguyễn Thị Hạnh sinh năm 1965. Hiện nay các con đi lấy chồng, chỉ còn cụ và vợ chồng ông Tuấn ở tại số nhà 38 - Lê Thần Tông - Quảng Xá 1- P.Đông Vệ- TP Thanh Hóa.

Khi cụ về làm vợ cụ Thới năm 1954 thì đã có 01 nhà ngói 4 gian, 01 bếp tranh 03 gian trên diện tích đất là 895m2, năm 1963 vì con cái đã lớn, nhà cửa chật chội nên cụ Thói cụ Lức đã làm thêm 3 gian nhà lợp tranh trên diện tích đất khoảng 200m2, phía sau nhà 4 gian, lúc đó chủ yếu là để đồ đạc của gia đình. Đen năm 1965 khi cụ sinh chị Hạnh; cụ Thói và cụ Lức bàn bạc để mẹ con cụ dọn ra ở căn nhà phía sau cho rộng rãi, nhưng vẫn ăn uống và sinh hoạt chung cùng gia đình.

Năm 1975 cụ Thói chết không để lại di chúc, hai chị em cụ vẫn chung sống hòa thuận để nuôi dạy các con; Đến năm 1996 cụ Lức chết không để lại di chúc. Năm 2007 ông Tuấn bảo cụ dọn lên nhà ông Tuấn ở, để ông Tuấn phá ngôi nhà mà cụ đang ở để làm bãi gửi xe; Chưa được sự đồng ý của cụ thì ông Tuấn đã cho người đến phá và dọn đồ đạc của cụ sang nhà ông Tuấn, ông Tuấn cho cụ ở dưới bếp, vợ chồng ông Tuấn không quan tâm, chăm sóc mà tỏ ra coi thường cụ. Để có cuộc sổng ổn định lúc tuổi già, cụ đề nghị Tòa án giải quyết và xác định: Nguồn gốc toàn bộ diện tích đất tại số nhà 38, Lê Thần Tông, Quảng Xá 1, phường Đông Vệ là đất của cụ Nguyễn Văn Thói để lại, cụ là vợ hai hợp pháp của cụ Thói. Toàn bộ diện tích đất trên hiện ông Nguyễn Anh Tuấn đang tạm thời quản lý, cụ Hồng đề nghị buộc ông Nguyễn Anh Tuấn phải trả lại cho cụ 300m2 đất để cụ làm nhà ở. Riêng phần nổi của ngôi nhà mà ông Tuấn phá đi, cụ không yêu cầu ông Tuấn phải bồi thường. Nay cụ xin rút một phần nội dung khởi kiện, cụ chỉ yêu cầu ông Tuấn, bà Hương (vợ ông Tuấn) phải giao cho cụ 200m2 đất, đó là diện tích đất mà cụ Thới đã làm nhà cho mẹ con cụ ở riêng từ năm 1965 cho đến khi ông Tuấn phá đi năm 2007.

Bị đơn ông Tuấn trình bày: Nguồn gốc đất tại số nhà 38 Lê Thần Tông là do bố mẹ ông là cụ Thới, cụ Lức mua lại của cụ Bích Hòe từ năm 1958 khoảng 1.000 m2, có giấy mua bán và có xác nhận của Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa, do ông Tôn Viết Nghiệm là Chủ tịch Ủy ban hành chính ký, nhưng hiện nay giấy chứng nhận này đã bị thất lạc. Năm 1975 bố ông là cụ Thới chết, năm 1996 mẹ ông là cụ Lức chết, cả hai ông bà đều không để lại di chúc. Nhưng trước khi bố, mẹ ông chết có giao cho ông quản lý toàn bộ tài sản này. Vì việc giao nhà và đất chỉ có bố mẹ và ông biết và không có ai chứng kiến. Năm 1986 khi còn sống, mẹ ông đã bán cho hai hộ là ông Đậu và bà Thái 200m2 đất.

Việc cụ Hồng kiện đòi chia đất là không đúng vì: Toàn bộ tài sản trên là của bố mẹ ông để lại, cụ Hồng chỉ là dì ruột của ông và về nhà ông ở từ năm 1975, sau khi bố ông chết được khoảng hai tháng, cụ Hồng là người quan hệ bất chính với bố ông từ năm 1960 đến 1964 gì đấy ông không rõ; Khi cụ Hồng về là do bà ngoại đặt vấn đề với mẹ ông và được sự đồng ý của mẹ ông thi cụ Hồng về ở từ năm 1975 đến nay, khi về cụ Hồng mang theo một cô con gái, lúc đó khoảng 10 tuổi. Kể từ khi cụ Hồng về thì mẹ ông thu xếp cho mẹ con cụ Hồng ở gian nhà phía sau và hai mẹ con ăn ở riêng, không có chung chạ gì với gia đình ông. Nay ông Tuấn không đồng ý việc cụ Hồng là vợ hai của bố ông và ông cũng không đồng ý trả đất cho cụ Hồng, vì cụ Hồng không có quyền gì đối với di sản do bố mẹ ông để lại.

Bà Lê Thị Hương (Vợ ông Tuấn) trình bày: Nhà đất là của bố mẹ chồng để lại, nay cụ Thới cụ Lức chết đi phận làm dâu bà phải có nghĩa vụ gìn giữ để thờ phụng bố mẹ và gia tiên bên chồng, không ai được quyền chia cắt, việc cụ Hồng khởi kiện đòi chia tài sản bà không đồng ý.

Tại phiên hòa giải cũng như tại phiên sơ thẩm cả ông Tuấn bà Hương đề nghị cụ Hồng rút đơn khởi kiện, ông, bà sẽ có trách nhiệm xây cho cụ một gian nhà khép kín trên diện tích đất tại số nhà 38, Lê Thần Tông, Quảng Xá 1, phường Đông Vệ và có trách nhiệm nuôi dưỡng và chăm sóc cụ đến khi qua đời, hoặc nếu cụ Hồng không muốn ở chung thì ông, bà sẽ hỗ trợ cho cụ Hồng một khoản tiền để cụ tìm nơi ở khác. Tuy nhiên ông Tuấn bà Hương cũng không đưa ra mức hỗ trợ hoặc diện tích đất để làm gian nhà cụ thể, nên cụ Hồng không đồng ý.

Tại Bản án sơ thẩm số 15/2011/DSST ngày 15/9/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa quyết định:

Chấp nhận sự tự nguyện rút một phần nội dung khản kiện của cụ Nguyễn Thị Hồng. Buộc ông Nguyễn Anh Tuấn và bà Lê Thị Hương phải giao lại cho cụ Hồng 200m2 đất (Rộng 8,85m, dài 22,6m), tại sổ nhà 38, Lê Thần Tông, Quảng Xá 1, phường Đông Vệ, Thành phổ Thanh Hóa, trị giá 960.000.000d (Chín trăm sáu mươi triệu đồng).

Diện tích đất giao cho cụ Hồng có tứ cận sau:

- Phía Bắc 22,6m giáp ngõ đi chung của xóm

- Phía Nam 22,6m giáp đất của ông Tuấn

- Phía Đông 8,85m giáp nhà ông Thủy, ông Đậu

- Phía Tây giáp đất ông Thuận.

Ông Tuấn, bà Hương phải giành lối đi chung có diện tích 78,5m2 (Chiều rộng 1,5m, chiều dài 52,34m) có tứ cận như sau:

- Phía Bắc giáp đất của cụ Hồng

- Phía Nam giáp đường Lê Thần Tông

- Phía Đông giáp nhà ông Tuấn

- Phía Tây giáp đất nhà ông Đồng, ông Quân, ông Mận, ông Hoàn và ông Thuận.

Phần diện tích đất còn lại 613,6m2 tạm giao cho ông Tuân được quyên quản lý, sử dụng.

Cụ Nguyễn Thị Hồng cỏ nghĩa vụ làm thủ tục để được cơ quan cỏ thâm quyên cấp giấy chủng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của luật đât đai.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thầm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26/9/2011 cụ Hồng nguyên đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm về ngõ đi chung; Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Tuấn, bà Hương để lại chiều rộng của ngõ đi chung chỉ có 1,5m là quá hẹp, đi lại gặp rât nhiêu khó khăn: Vì vậy đề nghi cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm buộc ông Tuấn, bà Hương đê ngõ đi chung rộng 3m mới đảm bảo.

Ngày 27/9/2011 bị đơn ông Tuấn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 15/DSST ngày 15/9/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2012/DSPT ngày 07/3/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa Quyết định:

Sửa án sơ thẩm về năm sinh của cụ Hồng. Cụ Nguyễn Thị Hồng sinh năm 1930.

Không chấp nhận kháng cảo của ông Nguyễn Anh Tuấn và cụ Nguyễn Thị Hồng:

Giữ nguyên toàn bộ Bản án sơ thẩm sổ 15/2011/DSST ngày 15/9/2011 của Tòa án nhân dân Thành phổ Thanh Hỏa.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa có công văn số 130/CV-THA ngày 18/7/2013 kiến nghị xem xét lại Bản án dân sự phúc thẩm theo trình tự giám đốc thẩm.

Tại quyết định kháng nghị số 387/KN-DS ngày 08/10/2014 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2012/DSPT ngày 07/3/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đề nghị tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm Hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 16/12/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận

XÉT THẤY

Nguồn gốc nhà đất tại số 38 Lê Thần Tông, Quảng Xá 1, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, căn cứ vào Biên bản hội nghị ngày 20/7/2011 và Công văn số 272/UBND - ĐCXD ngày 21/7/2011 của Ủy ban nhân dân phường Đông Vệ xác định nhà đất nêu trên là đất thổ cư lâu đời của cụ Nguyễn Văn Thới (cha của ông Tuấn). Từ năm 1952 đến nay đã chuyển nhượng cho hộ ông Lê Duy Đậu, hộ bà Đỗ Thị Thái một phần (250m2)

Năm 1952, cụ Thới chung sống với cụ Nguyễn Thị Lức sinh được 3 người con là bà Nguyễn Thị Cúc, ông Nguyễn Anh Tuấn và bà Nguyễn Thị Hoa. Năm 1954, cụ Thới chung sống với cụ Hồng (là em ruột của cụ Lức) sinh được 02 người con. 01 người chết và bà Nguyễn Thị Hạnh; mặc dù ông Tuấn không thừa nhận cụ Hồng là vợ hai của cụ Thới và cho rằng cụ Hồng chỉ về sống tại nhà ông từ năm 1975 nhưng theo Giấy xác nhận ngày 20/10/2010 của bà Cúc, bà Hoa (là con của cụ Thới, cụ Lức và là chị em cùng cha mẹ của ông Tuấn) và lời khai của ông Nguyễn Văn Phước (em ruột của cụ Lức, cụ Hồng) thi có cơ sở xác định cụ Hồng đã về chung sống với cụ Thới từ năm 1954. Tại Giấy xin chứng nhận ngày 19/7/2010 của cụ Hồng và Biên bản xác nhận ngày 02/01/2011 của các con cụ Nguyễn Thị Ngọt đã chết (chị ruột của cụ Thới) cũng đều thể hiện cụ Hồng là vợ hai của cụ Thới nên việc ông Tuấn cho rằng cụ Hồng không phải là vợ hai của cụ Thới là không có cơ sở. Mặt khác, quan hệ vợ chồng giữa cụ Thới và cụ Hồng tồn tại trước năm 1959 (trước thời điểm Luật HN & GĐ năm 1959 có hiệu lực) nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo cụ Hồng, năm 1963 cụ Thới xây dựng nhà lợp tranh 3 gian trên diện tích 200m2 đất ở phía sau nhà cấp 4 các cụ đang ở; năm 1965 cụ Hồng dọn ra ở tại gian nhà tranh này và sinh sống từ đó.

Năm 1975 cụ Thới chết không để lại di chúc; năm 1996 cụ Lức chết cũng không để lại di chúc. Nhà đất tại 38 Lê Thần Tông do cụ Hồng và ông Tuấn tiếp tục quản lý. Ông Tuấn cho rằng nhà đất này là của cụ Thới, trước khi chết cụ Thới và cụ Lức đã giao cho ông nhưng ông không xuất trình được tài liệu chứng minh. Trong khi đó, cụ Hồng là người sử dụng phần nhà đất tranh chấp suốt thời gian dài; cụ Thói, cụ Lức khi còn sống không ai có ý kiến gì và được các con của cụ Thói, cụ Lức và anh em trong gia đình của 2 cụ thừa nhận nên có cơ sở xác định cụ Hồng là người có quyền đối với phần nhà đất nêu trên.

Do vậy khối tài sản là nhà đất tại số 38 Lê Thần Tông là tài sản chung của cụ Thới, cụ Lức và cụ Hồng. Theo Biên bản xác minh hiện trạng và định giá tài sản ngày 17/8/2011, Tòa án cấp sơ thẩm xác đinh diện tích đất thực tế tại địa chỉ nêu trên là 992,1m2. Cụ Hồng chỉ yêu cầu được hưởng 200m2 đất, vị trí phía sau vì vị trí phía trước có giá trị cao hơn nhưng do ông Tuấn đã xây dựng nhà ở kiên cố nên cụ Hồng đồng ý để ông Tuấn được tiếp tục sử dụng, còn phần nhà do ông Tuấn phá dỡ năm 2007 cụ không yêu cầu giải quyết nhưng yêu cầu ông Tuấn phải giành lối đi chung cho cụ. Trong quá trình sử dụng đất liên tục, cụ Hồng cũng có công quản lý, giữ gìn đất; cụ Hồng có nguyện vọng được sử dụng đất.

Tòa án hai cấp chấp nhận yêu càu của cụ Hồng, buộc ông Tuấn và bà Hương giao cho cụ Hồng 200m2 đất (có tứ cận kèm theo) và giành lối đi chung có diện tích 78,5m2 đất (có tứ cận kèm theo) là có căn cứ và đã có lợi cho ông Tuấn.

Tuy nhiên, theo kết quả Biên bản xác minh ngày 17/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa thì trên diện tích đi chung này có tồn tại 10 công trình kiến trúc trên đất như cổng sắt, mái che của cổng sắt, nhà vệ sinh và trên phần diện tích 200m2 đất giao cho cụ Hồng có tồn tại 04 gian nhà kho (đã được Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa giải quyết bằng vụ án về yêu cầu chia tài sản chung là giá trị công trình nổi trên đất giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hoa với bị đơn là vợ chồng ông Tuấn- Bản án dân sự sơ thẩm số 01/DSST ngày 28/01/2013).

Khi xét xử, Tòa án hai cấp không đề cập đến các tài sản trên đất, cũng như biện pháp xử lý tài sản có trên phần đất nêu trên như thế nào là có thiếu sót dẫn đến việc thi hành án gặp khó khăn không thi hành án được.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 387/2014/KNDS ngày 08/10/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2012/DS-PT ngày 07/03/2012 và Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2011/DSST ngày 15/09/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về vụ án “Kiện đòi tài sản “ giữa nguyên đơn là cụ Nguyễn Thị Hồng với bị đơn là ông Nguyễn Anh Tuấn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hương.


148
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 516/2014/DS-GĐT ngày 16/12/2014 về vụ án tranh chấp kiện đòi tài sản

Số hiệu:516/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/12/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về