Quyết định giám đốc thẩm 465/2014/DS-GĐT ngày 24/11/2014 về vụ án tranh chấp ly hôn

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO 

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 464/2014/DS-GĐT NGÀY 24/11/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP LY HÔN

Họp phiên tòa ngày 24/11/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp ly hôn” giữa các bên đương sự là:

Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Thảo Trâm sinh năm 1976;

Trú tại: 472A Trần Hưng Đạo, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh;

Bị đơn: Ông Phan Tấn Đạt sinh năm 1974;

Trú tại: 22/2 ấp Đình, phường An Khánh, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh;

Địa chỉ: 550 Kinh Dương Vương, phường An Lạc, quận Bình Tân, thành phố HỒ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty: Ông Bùi Minh Nghĩa sinh năm 1980; trú tại 212/13A Nguyễn Hữu Cảnh, phường Tân Định, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh;

2. Công ty Cổ phần Tư vấn -Thương mại Dịch vụ địa ốc Hoàng Quân;

Địa chỉ: 31 -33 -35 Hàm Nghi, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty: Bà Lê Thị Mến Thương sinh năm 1978; trú tại 77/16 quốc lộ 13, phường 26, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 5-5-2010 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Trịnh Thị Thảo Trâm trình bày:

Chị kết hôn với anh Đạt năm 1997, quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nên chị yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: có 01 con chung là cháu Phan Trung Kiên sinh ngày 29-3- 1998. Nếu ly hôn chị xin được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung thì giữa chị và anh Đạt không có.

Bị đơn là anh Phan Tấn Đạt trình bày:

Anh và chị Trâm có quan hệ vợ chồng nhưng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; nay chị Trâm yêu cầu ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: có 01 con chung là cháu Phan Trung Kiên, anh có yêu cầu được nuôi con và chị Trâm phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung gồm có:

01 căn nhà, đất tọa lạc tại số 2 đường số 5A, khu phố 7, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

01 hợp đồng mua bán nhà trả góp với Công ty cổ phần tư vấn thương mại dịch vụ địa ốc Hoàng Quân, tính đến thời điểm này vợ chồng anh đã trả góp được khoảng hơn 200.000.000d.

Đối với số tài sản chung anh có yêu cầu được chia đôi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cỗ phần đầu tư xây dựng Bình Chảnh trình bày:

Ngày 25-12-1998, chị Trịnh Thị Thảo Trâm ký họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khu dân cư An Lạc, Bình Trị Đông với Công ty xây dựng Bình Chánh nay là Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh. Đây là giao dịch giữa Công ty với cá nhân chị Trâm. Hiện phần đất này chị Trâm đã xây nhà, chị Trâm đã thanh toán xong nghĩa vụ tài chính nhưng chị Trâm vẫn chưa đến công ty để làm thủ tục tách thửa sang tên.

Công ty cũng xác định trong thời gian qua, phía gia đình chị Trâm có đơn đề nghị tạm ngừng việc hoàn chỉnh thủ tục cấp giấy chứng nhận. Việc vợ chồng chị Trâm ly hôn và chia tài sản, đây là yêu cầu của họ, công ty không có ý kiến.

Công ty cổ phần tư vấn thương mại dịch vụ địa ốc Hoàng Quân trình bày: Ngày 27-12-2007, Công ty có ký họp đồng bán căn nhà tại lô C5-06 thuộc khu nhà ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long cho chị Trâm. Đây là họp đồng mua bán nhà trong khu dự án, thanh toán theo hình thức trả góp, tổng giá trị họp đồng là 625.000.000đ, thỏa thuận thời gian trả góp và giao nhà thực hiện theo tiến độ công trình. Hiện hợp đồng còn đang thực hiện, bên bán chưa giao nhà, bên mua cũng chưa trả xong tiền. Tính đến ngày 14-4-2010 chị Trâm đã trả góp được 241.666.168đ.

Căn cứ hợp đồng, Công ty xác định đây là giao dịch giữa Công ty với cá nhân chị Trâm. Do vậy, việc chị Trâm, anh Đạt ly hôn công ty không có ý kiến. Công ty vẫn muốn hợp đồng được thực hiện tiếp còn nếu chị Trâm muốn chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì Công ty đồng ý nhưng chị Trâm phải chịu phạt 3% trên số tiền đã trả góp đến thời điểm này, số tiền còn lại là 229.582.955đ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2011/HNGĐ-ST ngày 10-5-2011 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân quyết định:

Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Trịnh Thị Thảo Trâm với anh Phan Tấn Đạt.

Công nhận sự thỏa thuận của chị Trâm và anh Đạt: giao con chung là cháu Phan Trung Kiên cho anh Đạt trực tiếp nuôi dưỡng, chị Trâm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đ, thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Chấp nhận một phần chia tài sản chung của anh Phan Tấn Đạt: công nhận số tiền 229.582.955đ của hợp đồng mua bán nhà căn nhà tại lô C5-06 thuộc dự án khu nhà ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long là tài sản chung của anh Đạt, chị Trăm.

Buộc chị Trâm phải trả cho anh Đạt số tiền 76527.651đ, chị Trâm được quyền sở hữu hợp đồng trên khỉ giao đủ sỗ tiền nêu trên cho anh Đạt.

Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của anh Đạt đối với tài sản nhà và đất tọa lạc tại số 02, đường 5A, khu phố 7, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, giá trị ông yêu cầu được chia là 1.152.000.000đ.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn có quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16-5-2011, anh Đạt có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Ngày 23-5-2011, chị Trâm có đơn kháng cáo 1 phần bản án sơ thẩm, chị không đống ý chia cho anh Đạt 1/3 giá trị hợp đồng góp vốn mua căn nhà vì chị xác định đây là tài sản riêng của chị Sau đó, ngày 4-8-2011, chị Trâm có đơn xin rút đơn kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 1127/2011/HNPT ngày 08/09-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh sửa một phần bản án sơ thẩm như sau:

Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Trâm và anh Đạt.

Công nhận sự thỏa thuận của chị Trâm và anh Đạt: giao con chung là cháu Phan Trung Kiên cho anh Đạt trực tiếp nuôi dưỡng, chị Trâm có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000đ

Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung của anh Phan Tấn Đạt.

Công nhận số tiền 229.582.955đ của “họp đồng mua bán nhà” căn nhà tại lô C5-06 thuộc dự án khu nhà ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long là tài sản chung của chị Trâm và anh Đạt.

Buộc chị Trâm phải trả cho anh Đạt số tiền 76.527.651đ

Chị Trâm được quyền sở hữu họp đồng khi giao đủ số tiền nêu trên cho anh Đạt.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Đạt về việc chia tài sản chung đối với tài sản là nhà, đất tọa lạc tại số 02, đường 5A, khu phố 7, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh giá trị anh Đạt yêu cầu được chia là 1.152.005.000đ.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Phan Tấn Đạt có đon đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị số 303/2014/KN-DS ngày 29 tháng 8 năm 2014 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị một phần Bản án dân sự phúc thẩm số 1127/2011/DSPT ngày 08/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về vụ án dân sự “Tranh chấp ly hôn” giữa nguyên đơn là chị Trịnh Thảo Trâm với bị đơn là ông Phan Tấn Đạt; Đồ nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy một phần Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2011/HNGĐ-ST ngày 10-5-2011 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh đối với yêu cầu chia tài sản chung là họp đồng góp vốn mua nhà với Công ty Hoàng Quân; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đôc thẩm ngày 24/11/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Bà Trịnh Thị Thảo Trâm khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Phan Tấn Đạt và xác định giữa hai người không có tài sản chung mà chỉ có 01 con chung (cháu Phan Trung Kiên sinh năm 1998). Về con chung ông Đạt thừa nhận như lời trình bày của bà Trâm. Tuy nhiên, về tài sản chung, ông Đạt xác định giữa ông và bà Trâm có các tài sản chung sau: 01 căn nhà, đất tọa lạc tại số 2 đường số 5A, khu phố 7, phường Bĩnh Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh và 01 hợp đồng mua bán nhà trả góp với Công ty cổ phần tư vấn thương mại dịch vụ địa ốc Hoàng Quân, tính đến ngày 14-4-2010 đã góp vốn được 241.666.168 đồng.

Xét yêu cầu của bà Trâm thấy rằng:

Về con chung: Bà Trâm đồng ý để ông Đạt nuôi con và bà Trâm có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu Kiên đủ 18 tuổi. Hiện nay, bà Trâm và ông Đạt đều không đề nghị Tòa án xem xét lại vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung:

Đối với nhà, đất tọa lạc tại số 2, đường 5A, khu phố 7, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh: Theo xác nhận của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh, thì ngày 25-12-1998, bà Trâm ký họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khu dân cư An Lạc - Bình Trị Đông với Công ty xây dựng Bình Chánh (nay là Công ty cổ phần xây dựng Bình Chánh). Đây là giao dịch giữa Công ty với cá nhân bà Trâm, bà Trâm đã thực hiện xong nghĩa vụ tài chính với Công ty. Như vậy, trên giấy tờ về nhà, đất chỉ đứng tên bà Trâm. Bà Trâm xác định nhà, đất trên là tài sản riêng của bà và bà Trâm xuất trình các tài liệu chứng minh nguồn tiền mua nhà, đất là được thừa kế tài sản từ gia đình. Việc bà Trâm được thừa kế khoảng 200 lượng vàng từ gia đình đã được ông Nguyễn Đức Thịnh (là cảnh sát khu vực nơi bà Trâm sinh sống) và ông Trịnh Thanh Long (là chú của bà Trâm) xác nhận. Ông Đạt cho rằng nhà, đất nêu trên là tài sản chung của ông và bà Trâm, ông có góp vốn vào việc mua nhà nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định nhà, đất nêu trên là tài sản riêng của bà Trâm là có căn cứ.

Đối với hợp đồng mua bán nhà với Công ty thương mại địa ốc Hoàng Quân: Ngày 27-12-2007, bà Trâm ký họp đồng mua bán căn nhà tại lô C5- 06 thuộc khu nhà ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long với Công ty thương mại địa ốc Hoàng Quân (gọi tắt là Công ty Hoàng Quân), giá trị họp đồng là 625.000.000 đồng, bà Trâm đã trả góp được 241.666.168 đồng. Giao dịch này được xác lập trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Trâm và ông Đạt. Bà Trâm xác định hợp đồng góp vốn mua nhà nêu trên là tài sản riêng của bà Trâm nhưng bà Trâm không xuất trình được tài liệu chứng minh. Ông Đạt không thừa nhận như lời trình bày của bà Trâm mà xác định họp đồng góp vốn mua nhà là tài sản chung của ông và bà Trâm. Trong trường hợp này, cả ông Đạt và bà Trâm đều không chứng minh được số tiền đóng góp mua nhà, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông Đạt chỉ đóng góp 1/3 giá trị góp vốn theo họp đồng mua nhà khu dân cư Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long là chưa đủ căn cứ.

Mặt khác, ông Đạt là người trực tiếp nuôi con nên cần phải xem xét lại việc góp vốn mua nhà chung cư giữa ông Đạt và bà Trâm khu dân cư Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long để đảm bảo quyền lợi của người con.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

- Chấp nhận quyết định kháng nghị số 303/2014/KN-DS ngày 29 tháng 8 năm 2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

- Hủy một phần Bản án dân sự phúc thẩm số 1127/2011/DSPT ngày 08/09/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2011/HNGĐ-ST ngày 10/05/2011 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh về vụ án dân sự “Tranh chấp ly hôn” giữa nguyên đơn là chị Trịnh Thảo Trâm với bị đơn là ông Phan Tấn Đạt đối với yêu cầu chia tài sản chung là họp đồng góp vốn mua nhà với Công ty Hoàng Quân.


105
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 465/2014/DS-GĐT ngày 24/11/2014 về vụ án tranh chấp ly hôn

Số hiệu:465/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/11/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về