Quyết định giám đốc thẩm 419/2014/DS-GĐT ngày 16/10/2014 về vụ án tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 419/2014/DS-GĐT NGÀY 16/10/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 16/10/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất” do có kháng nghị số 282/2014/KN-DS ngày 15/8/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 34/2011/DSPT ngày 18/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Gián, sinh năm 1954.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1965.

Cùng trú tại: Thôn Hương Ngọc, xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2010 và trong quá trình tổ tụng, nguyên đơn bà Hoàng Thị Gián trình bày:

Năm 1993, bà đăng ký Ủy ban nhân dân (UBND) xã Hương Sơn, huyện Tam Đảo (nay là huyện Bình Xuyên), tỉnh Vĩnh Phúc xin cấp 04 xuất đất (300m2/xuất). Do mỗi người chỉ được đăng ký một xuất, nên bà nhờ cụ Hoàng Văn Thảo (là bố của bà), bà Nguyễn Thị Hiền và bà Nguyễn Thị Hạnh mỗi người đứng tên đăng ký hộ 01 xuất và bà cũng đứng tên đăng ký 01 xuất, bà trực tiếp nộp tiền 04 xuất đất, mỗi xuất 480.000đ cho ông Nguyễn Tiến Hồng (là cán bộ địa chính xã Hương Sơn); ông Hồngcó viết phiếu tạm thu đứng tên 4 người, sau đó bà được nhận 4 xuất đất, trong đó đất bà đứng tên là ô số 01, cụ Thảo ô số 02, bà Hiền ô số 03, bà Hạnh ô số 04.

Sau khi nhận đất, bà nhờ bà Lan, bà Hạnh, bà Hiền rào 04 ô đất, Khi Chi cục thuế Tam Đảo thông báo mỗi suất đất phải nộp 693.000đ, ngày 15/9/1993 bà nộp nốt số tiền còn lại cho ông Hồng. Tổng cộng bà đã nộp cho ông Hồng 2.772.000đ, ông Hồng có viết cho bà Giấy biên nhận với nội dung nhận tiền đền bù đất của bà 4 suất là 2.772.000đ. Theo quy định của Nhà nước thì bà được giảm thuế đất 19%, cụ Thảo 27%, bà Hiền 4% còn bà Hạnh không được giảm, nên sau khi đổi trừ số tiền lệ phí đất thuế trước bạ của 04 ô đất với số tiền được miễn giảm (bà Gián), cụ Thảo, bà Hiền) số tiền thừa ông Hồng đã trả lại cho bà.

Ngày 29/9/1997, bà đổi hai ô đất số 03+04 (bà Hạnh, bà Hiền đứng tên) cho ông Mừng, bà Hào. Giấy đổi đất do bà Hiền viết có xác nhận của UBND xã, lệ phí chuyển nhượng là 100.000đ. Ô đất số 01+02 còn lại (do bà và cụ Thảo đứng tên) bà đã trồng Xoan, Bạch Đàn. Năm 2000, bà cho anh Bảo, chị Kiệm (anh trai của bà Hiền) mượn trồng sắn, khi cho mượn không làm giấy tờ mà chỉ giao hẹn phải nộp thuế đất cho trưởng khu thay bà. Năm 2004 anh Bảo, chị Kiệm trả bà đất. Năm 2005, bà mới biết bà Hiền đã kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 02 ô đất trên với diện tích 785m2. Phần diện tích thừa 185m2 được cấp quyền sử dụng là do khi bà được chia đất, bà đã đào một hố tôi vôi liền kề với đất của bà để kinh doanh vôi ướt, khi kê khai bà Hiền đã kê khai thêm phần diện tích đất này. UBND xã xác định bà Hiền tự kê khai, do không xác minh, nên UBND xã đã cấp nhầm. Bà khiếu nại yêu cầu UBND xã giải quyết, UBND xã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Do đó từ năm 1990 đến năm 2000 bà Hiền ở cùng bà, nên bà Hiền đã lấy các giấy tờ như phiếu thu, thông báo nộp tiền đất tên bà Hiền, bà Hạnh để kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên hiện bà chỉ còn lại thông báo và phiếu thu của Chi cục thuế. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Hiền trả lại cho bà 02 ô đất số 01 và 02 diện tích 600m2 nêu trên.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Hiền trình bày:

Năm 1993 bà, bà Gián, bà Hạnh, cụ Thảo mỗi người đều có đơn xin UBND xã Hương Sơn mua đất, trong đó bà xin mua 01 lô, bà Hạnh xin mua 01 lô, bà Gián xin mua 01 lô và nhờ cụ Thảo đứng tên mua một lô, mỗi ô có diện tích 300m2 ở khu sân bóng, thôn Hoàng Oanh (nay là Hương Ngọc). Bà là người nộp tiền lệ phí cho ông Hồng (cán bộ địa chính xã) 480.000đ. Bà Hạnh cũng được duyệt mua đất, nhưng bà Hạnh không lấy mà cho bà nộp tiền để lấy xuất của bà Hạnh và bà cũng nộp 480.000đ xuất đất của bà Hạnh cho ông Hồng. Sau khi nộp tiền, ông Hồng có đưa cho bà 02 phiếu thu số 9 và số 10 cùng ngày 10/4/1993.

Sau khi nộp tiền xong các hộ được giao đất, trong đó bà được giao ô số 1, bà Hạnh ô số 2, bà Gián ô số 3, cụ Thảo ô số 4, diện tích mỗi ô là 300m2. Bà là người trực tiếp ra nhận đất ô số 1+2.

Ngày 29/9/1997 bà Gián đổi ô đất số 3+4 của bà Gián và cụ Thảo cho ông Mừng, bà Hào. Giấy đổi đất do bà viết hộ. sau khi đổi đất, ông Mừng, bà Hảo đã làm nhà ở và không có tranh chấp. Còn 02 ô đất số 1+2 của bà, bà đã kê khai năm 2004 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích hai ô đất được cấp là 600m2, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi là 785m2, trong đó có 300m2 đất thổ cư, còn lại là đất vườn. Phần diện tích 185m2 thừa ra so với khi được cấp là do bà vỡ hoang và tự kê khai vào diện tích đất của mình để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đồng ý trả lại 2 ô đất số 1+2 diện tích 600m2 theo yêu cầu khởi kiện của bà Gián.

Tại bản án số 08/2011/DSST ngày 27/5/2011, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên quyết định:

Buộc bà Nguyễn Thị Hiền phải trả lại cho bà Hoàng Thi Gián diện tích đất là 600m2 (trong đó có 300m2 đất ở và 300m2 đất vườn) có số thửa 290 tờ bản đồ số 05 thuộc thôn Hương Ngọc, xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Thửa đất trên có các cạnh ABB’D’( có sơ đồ kèm theo); trong đó: Cạnh AB dài 40m, hướng Tây Bắc giáp đất ong bà Hào Mừng;

Cạnh BB’ dài 15m, hướng Đông Bắc giáp đường đường liên thôn;

Cạnh B’D’ dài 40m, hướng Đông Nam giáp 185m2 đất của bà Hiền lấn chiếm;

Cạnh D’A dài 15m, hướng Tây Nam giáp đường ngõ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03/6/2011, bà Nguyễn Thị Hiền kháng cáo với nội dung không đồng ý toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 34/2011/DSPT ngày 18/8/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc quyết định:

Giữ nguyên bản án sơ thâm.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Hiền có đơn đề nghị xem xét bản án dân sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại quyết định kháng nghị số 282/2014/KNDS ngày 15/8/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 34/2011/DSPT ngày 18/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 08/2011/DSST ngày 27/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên để xét xử sơ thẩm lại.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí một phần kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị hủy cả 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử sơ thẩm lại

XÉT THẤY

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì diện tích 600m2 đất đang tranh chấp tại thôn Hoàng Oanh, xã Hương Sơn, huyện Tam Đảo (nay là Bình Xuyên), tỉnh Vĩnh Phúc có nguồn gốc do Ủy ban nhân dân xã Hương Sơn cấp cho các hộ dân năm 1993.

Bà Hoàng Thị Gián cho rằng năm 1993, bà đăng ký với Ủy ban nhân dân xã Hương Sơn xin cấp 04 xuất đất, mỗi xuất 300m2, bà nhờ cụ Hoàng Văn Thảo (là cha của bà); bà Nguyễn Thị Hiền và bà Nguyễn Thị Hạnh mỗi người đăng ký hộ cho bà 01 xuất, sau đó bà trả tiền (tạm thu) 4 xuất dất, mỗi suất 480.000đ cho ông Nguyễn Tiến Hồng (là cán bộ địa chính xã Hương Sơn) khi nhận đất thì bà đứng tên ô số 1, cụ Thảo ô số 2, bà Hiền ô số 3, bà Hạnh ô số 4. Ngày 15/9/1993, bà nộp nốt số tiền còn thiếu của 4 xuất đất cho ông Hồng, tổng cộng 2.772.000đ. Ngày 29/9/1997, bà đổi ô đất số 03 và số 04 (do bà Hạnh, bà Hiền đứng tên) cho vợ chồng ông Ngô Xuân Mừng, bà Nguyễn Thị Hảo, còn ô đất số 1 và số 2 (do cụ Thảo và bà đứng tên) bà trồng xoan, bạch đàn. Năm 2000-2004, bà thỏa thuận miệng cho vợ chồng ông Nguyễn Quốc Bảo, bà Trương Thị Kiệm (là anh của bà Hiền) mượn để canh tác. Năm 2005, bà Hiền tự ý kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 785m2, trong đó 600m2 là của ô đất số 1 và số 2 của bà; 185m2 là do bà Hiền tự khai phá. Bà đã khiếu nại và Ủy ban nhân dân xã Hương Sơn xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hiền là cấp nhầm. Do năm 1990-2000 bà Hiền ở cùng bà đã lấy các giấy tờ như phiếu thu, thông báo nộp tiền đất đứng tên bà Hiền, bà Hạnh để kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên hiện bà chỉ còn lại thông báo và phiếu thu của Chi cục thuế, nên bà khởi kiện yêu cầu bà Hiền trả lại bà lô đất số 01 và số 02, diện tích 600m2. Phần đất 185m2 bà không yêu càu Tòa án giải quyết.

Trong khi đó bà Hiền không thừa nhận việc đứng tên xin cấp đất hộ bà Gián mà cho rằng do có nhu cầu về nhà ở, nên bà làm đơn xin cấp đất và nộp 480.000đ tiền lệ phí đất cho ông Hồng. Ngoài ra, bà còn nộp 480.000đ cho ông Hồng để lấy xuất đất của bà Hạnh, sau đó ông Hồng đưa cho bà 02 phiếu thu số 9 và số 10 cùng ngày 10/4/1993. Khi giao đất, bà được giao ô số 1, bà Hạnh ô số 2. Năm 2004, bà kê khai đăng ký 2 ô đất này và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 785m2, trong đó có 300m2 đất thổ cư, 300m2 đất vườn. 185m2 đất thừa ra so với khi được cấp là do bà khai hoang, nên bà không đồng ý trả lại 600m2 theo yêu cầu của bà Gián.

Theo lời khai của các nhân chứng thì:

1. Ông Nguyễn Tiến Hồng khẳng định ông thu tiền của bà Gián 4 xuất đất và sổ tay của ông Hồng( BL331) thể hiện thanh toán tiền được giảm cho bà Gián 3 xuất( ông Thảo, bà Gián, bà Hiền) là 240.000đ;

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh khai thời gian đó bà và bà Hiền không có tiền mua đất, bà không chuyển nhượng đất cho bà Hiền, bà và bà Hiền đứng tên hộ bà Gián, thời điểm này bà Hiền ăn ngủ ở nhà bà Gián như ruột thịt. Sau khi có đất bà Gián còn thuê bà Hạnh, bà Hiền, bà Lan rào đất bằng cây gai xấu hổ.

3. Bà Nguyễn Thị Lan khai bà Gián làm đội trưởng có tiền mua đất, bà Hiền vất vả được bà Gián cưu mang, bà Hạnh, bà Hiền không có tiền mua đất.

4. Ông Phạm Tiến San, ông Lê Công Ngà khai: Năm 1993 các ông giao đất cho bà Hiền ở vị trí đầu, sau là bà Gián.

5. Chính quyền địa phương cung cấp: sổ mục kê từ năm 1993-1997 bà Gián đứng tên 4 xuất. Danh sách cấp đất ngày 01/9/1993 thể hiện bà Gián ô số 1, ông Thảo ô số 2, bà Hiền ô số 3, bà Hạnh ô số 4. Tại thông báo nộp tiền của Chi cục thuế huyện Tam Dương thể hiện ô số 1,2 là của bà Gián, ô Thảo,ô số 3 của bà Hạnh, ô số 4 của bà Hiền. Và bà Hiền đã thừa nhận đã sửa ngược lại ô số 1,2 là của bà (tại BL84) phiếu thu số 10 ngày 10/4/1993 phần người nộp tiền có chữ ký Hạnh...(tại BL85) phiếu thu số 9 ngày 10/4/1993 có chữ ký người nộp tiền nhưng không rõ ai ký.

Tại phiên tòa phúc thẩm. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp cho bà Hiền đề nghị giám định 4 biên lai thu lệ phí thổ cư.

Tổng hợp, phân tích đánh giá những lời khai của các đương sự, người làm chứng, tài liệu chứng cứ nêu trên. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm nhận thấy.

Đổ có cơ sở vững chắc giải quyết vụ án thì cần yêu cầu bà Hiền, bà Gián chứng minh và cân thu thập chứng cứ đê làm rõ có việc bà Gián là người cưu mang, xin cho bà Hiền vào làm công nhân, có việc bà Hiền ăn ở nhà bà Gián để bà Hiền lợi dụng lấy giấy tờ đất của bà Gián đi kê khai làm thủ tục không? ở thời điểm mua đất hoàn cảnh, điều kiện kinh tế của và Hiền như thế nào, điều kiện kinh tế của bà Gián như thế nào? Nguồn tiền mua đất do đâu mà có?

Cần lấy lời khai của ông Ngô Công Quyền để làm rõ có việc bà Gián đến đăng ký mua 4 xuât đât. Nhưng ông Quyên trả lời môi người chỉ được đăng ký mua 1 xuất nên bà đã nhờ 3 người đứng tên đăng ký mua hộ như lời khai của bà Gián không?

Cần thu thập chứng cứ về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hiền có đúng quy định của pháp luật không? Bà Gián có biết chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích này không? Ủy ban nhân dân huyện Bình Xuyên dựa trên căn cứ nào để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/10/2004 cho bà Nguyễn Thị Hiền diện tích 785m2 đất và tại sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện số thửa, số tờ bản đồ.

Cần thu thập chứng cứ để làm rõ sau khi được giao đất ai là người quản lý sử dụng: Bà Lan, bà Hạnh khai bà Gián thuê bà Hiền, bà Lan, bà Hạnh trồng cây gai xấu hổ xung quanh đất. Bà Gián khai cho vợ chồng ông Bảo (là anh ruột bà Hiền) mượn đất trồng sắn, bà Hiền khai tại (BL77) bà Hiền và bà Gián vẫn trồng sắn chung trên khu đất đó. Để từ đó có thêm căn cứ xác định có việc bà Gián nhờ bà Hiền đứng tên mua hộ 1 xuất đất như lời khai của bà Gián không? Và có việc bà Hiền mua 1 xuất và mua của bà Hạnh 1 xuất đất như lời khai của bà Hiền không? xuất đất như lời khai của bà Gián không? Và có việc bà Hiền mua 1 xuất và mua của bà Hạnh 1 xuất đất như lời khai của bà Hiền không?

Cần thu thập chứng cứ làm rõ ai là người ký tại phiếu thu số 9 và phiếu thu số 10 ngày 10/4/1993 (BL84,85).

Do việc thu thập chứng cứ và chứng minh của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thực hiện đầy đủ. Nên kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là cần thiết được Hội đồng xét xử giám đốc chấp nhận.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 34/2011/DSPT ngày 18/08/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 08/2011/DSST ngày 27/05/2011 của TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quỵên sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Hoàng Thị Gián với bị đơn là bà Nguyễn Thị Hiền.


140
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 419/2014/DS-GĐT ngày 16/10/2014 về vụ án tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất

Số hiệu:419/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/10/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về