Quyết định giám đốc thẩm 41/2007/DS-GĐT ngày 14/12/2007 về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 41/2007/DS-GĐT NGÀY 14/12/2007 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN 

Ngày 14 tháng 12 năm 2007, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao  đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “tranh chấp về thừa kế tài sản” giữa:

Nguyên đơn: Bà Tất Há Nữ, sinh năm 1959; trú tại: Số nhà 229 Nguyễn Tiểu La, phường 8, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Khương Nguyệt Hoa, sinh năm 1954; trú tại: Số nhà 135/11 Hà Tôn Quyền, phường 4, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Tất Thu Nữ, sinh năm 1953; trú tại: Nhà số 254/258 Trần Hưng Đạo, phường 11, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Tất Nữ, hiện cư trú tại Đài Loan.

3. Bà Tất Ngân, sinh năm 1962; trú tại: Số nhà 98 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. (Tạm trú tại: nhà số 145/36 B khu 6, phường An Lạc, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

4. Anh Diệp Văn Minh, sinh năm 1968.

5. Anh Diệp Văn Hùng, sinh năm 1972.

6. Anh Diệp Tô Hà, sinh năm 1974.

7. Chị Diệp Nhi Chi, sinh năm 1971.

8. Chị Lâm Huệ Bình, sinh năm 1976.

9. Chị Lâm Huệ Liên, sinh năm 1978.

10.Chị Lâm Huệ Trinh, sinh năm 1981.

11. Chị Lâm Huệ Châu, sinh năm 1983.

(Anh Minh, anh Hà, anh Hùng, chị Nhi, chị Bình, chị Liên, chị Trinh, chị Châu là con chung của bà Diệp Tô Muội và ông Lâm Tô Hà đều trú tại: nhà số 958/2 Lò Gốm, phường 8, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

12. Anh Tất Diệu Đường, sinh năm 1976.

13. Chị Tất Lệ Mạnh, sinh năm 1978.

14. Chị Tất Lệ Hằng, sinh năm 1979.

15. Chị Tất Lệ Thuyền, sinh năm 1980.

(Anh Đường, chị Mạnh, chị Hằng và chị Thuyền là con chung của bà Khương Hoa và ông Tất Kim Thành đều trú tại: nhà số 135/11 Hà Tôn Quyền, phường 4, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.

16. Bà Lý Thị Ngọc Lang, sinh năm 1953; tạm trú tại: nhà số 409/38 Nguyễn Trãi, phường 7, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. (Nơi ĐKNKTT: nhà số 115 Nguyễn Trãi, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh).

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 28-3-2001 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Tất Há Nữ trình bày:

Cha mẹ bà là cụ Tất Noãn (chết ngày 17-6-1980 và cụ Diệp Tú Anh (chết ngày 16-4-1997 đều không có di chúc, có 8 người con chung gồm:

- Bà Diệp Tô, chết ngày 08-10-2000, không có chồng con.

- Bà Diệp Tô Muội, chết ngày 21-02-1986, có chồng là ông Lâm Tô Hà và 08 người con là: Diệp Văn Minh, Diệp Nhi Chi, Diệp Văn Hùng, Diệp Tô Hà, Lâm Huệ Bình, Lâm Huệ Liên, Lâm Huệ Trinh, Lâm Huệ Châu.

- Bà Tất Nữ, sinh năm 1948 (trú tại Đài Loan);

- Ông Tất Kim Thành, chết ngày 15-12-1984, có vợ là bà Khương Nguyệt Hoa, có 5 người con là: Tất Diệu Đường, Tất Lệ Mạnh, Tất Lệ Thuyền, Tất Lệ Hằng, Tất Diệu Cơ (chết).

- Bà Tất Thu Nữ;

- Ông Tất Châu Chảy, chết ngày 29-6-1988, không có vợ con;

- Bà Tất Há Nữ, sinh năm 1959;

- Bà Tất Ngân, sinh năm 1962;

Tài sản do cha mẹ bà để lại là ngôi nhà và quyền sử dụng đất tại số 98 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cụ Tú Anh chết, bà Khương Nguyệt Hoa quản lý và đã dùng thủ đoạn giam dối, lập hồ sơ giả, bán lại căn nhà trên cho bà Lý Thị Ngọc Lang. Khi bà Hoa bán nhà cho bà Lang, bà và các chị em bà không biết. Bà yêu cầu Tòa án buộc bà Hoa chia tiền bán nhà cho bà và các em của bà, mỗi người một phần (tương đương với kỷ phần thừa kế) mà bà và các chị em được hưởng từ di sản của cha mẹ bà để lại. Số tiền bán căn nhà mà bà Hoa thu được là 138 lượng vàng SJC.

Bị đơn bà Dương Nguyệt Hoa trình bày: Cụ Anh ở tại ngôi nhà trên cùng với bà Diệp Tô, bà và các con bà. Năm 1989, cụ Tú Anh cùng với một số người con của cụ Diệp Tô, Tất Nữ, Tất Ngân và Tất Há Nữ xin hợp thức căn nhà, đứng tên cụ Diệp Tú Anh. Sau khi hợp thức hóa nhà, cụ Tú Anh làm giấy bán nhà cho bà với giá 1.500.000 đồng với điều kiện bà phải lo chăm sóc cụ khi còn sống và lo mai táng cho cụ Tú Anh khi cụ chết, đồng thời lo nuôi và mai táng cho bà Diệp Tô khi bà Tô chết. Mọi thủ tục đã hoàn tất theo quy định. Khi cụ Tú Anh bán nhà cho bà đã có sự đồng ý của bà Diệp Tô, bà Tất Nữ, bà Tất Ngân thể hiện tại “Tờ ưng thuận” ngày 29-8-1989 và sự đồng ý của bà Tất Há Nữ tại “Tờ cam kết” ngày 06-11-1989. Việc làm văn tự nhượng và thụ nhượng ngày 18-8-1989 có xác nhận của UBND phường 2, quận 5. Sau đó, tại Quyết định số 1101/GP-UB ngày 05-12-1989 UBND quận 5 cấp giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa cho bà. Bà đã đóng thuế trước bạ sang tay theo đúng quy định của pháp luật. Việc mua bán nhà của bà là hợp pháp. Năm 2000 sau khi bà Diệp Tô chết, bà cần tiền để chạy chữa cho một người con tên là Tất Diệu Cơ bị ung thư máu nên đã bán căn nhà trên cho bà Lý Thị Ngọc Lang với giá 80.000.000 đồng và việc mua bán nhà với bà Lang đã hoàn tất thủ tục nên không đồng ý yêu cầu chia thừa kế của bà Tất Há Nữ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ( BL 61, 62,165).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà Tất Ngân và bà Tất Thu Nữ cũng có lời khai thống nhất với nguyên đơn về quan hệ huyết thống và nguồn gốc nhà 98 Huỳnh Mẫn Đạt là do cha mẹ để lại. Bà Tất Ngân, Tất Thu Nữ xin được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật.

Ông Lâm Tô Hà (chồng bà Diệp Tô Muội) cùng 8 người con xin được hưởng thừa kế phần của bà Muội theo quy định của pháp luật.

Các anh chị Tất Diệu Đường, Tất Lệ Mạnh, Tất Lệ Thuyền và Tất Lệ Hằng (con của ông Thành, bà Hoa) thống nhất với lời khai của bà Hoa về nguồn gốc ngôi nhà và việc cụ Tú Anh đã bán nhà cho bà Hoa.

Bà Lý Thị Ngọc Lang (người mua căn nhà 98 Huỳnh Mẫn Đạt) trình bày: Bà mua nhà của bà Hoa với giá 120 lượng vàng, mọi thủ tục đã hoàn tất. Việc bà mua căn nhà số 98 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh của bà Hoa là đúng các quy định của Nhà nước. Nay anh, chị em bên chồng của bà Hoa tranh chấp, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bà.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi chỉ yêu cầu xin chia thừa kế giá trị 1/2 căn nhà mà bà Hoa đã bán thuộc phần tài sản của cụ Tất Noãn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2006/DS-ST ngày 09-01-2006, Tòa án nhân dân thành phố thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của bà Tất Há Nữ, Tất Thu Nữ, Tất Ngân, ông Lâm Tô Hà đại diện các con bà Diệp Tô Muội.

Xác định 1/2  số vàng  bán nhà Huỳnh Mẫn Đạt, phường 2, quận 5, là di sản của ông Tất Noãn để lại. Sau khi trừ tiền sửa chữa nhà tương đương 2,79 lượng vàng SJC còn 57,921 lượng vàng SJC được chia như sau: Bà Tất Há Nữ, Tất Thu Nữ, Tất Ngân, Tất Nữ và các con của bà Diệp Tô Muội được hưởng mỗi kỷ phần thừa kế là 8,274 lượng vàng SJC.

Buộc bà Khương Nguyệt Hoa phải giao số vàng cho mỗi kỷ phần thừa kế như trên ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Tất Há Nữ được nhận quản lý phần thừa kế của bà Tất Nữ. Khi bà Tất Nữ có yêu cầu thì giao lại. Kỷ phần thừa kế của các con ông Thành là 8,274 lượng vàng SJC bà Hoa quản lý. Kỷ phần thừa kế của bà Diệp Tú Anh bà Hoa được sở hữu là 8,274 lượng vàng SJC.

Bác yêu cầu của bà Khương Nguyệt Hoa đòi sở hữu toàn bộ số vàng bán nhà 98 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, điều kiện thi hành án và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 16-01-2006 bà Khương Nguyệt Hoa kháng cáo, với  lý do căn nhà 98 Huỳnh Mẫn Đạt bà đã mua của cụ Tú Anh từ năm 1989. Các thủ tục hành chính về căn nhà trên đã được cấp có thẩm quyền chứng nhận, bà đã đóng thuế trước bạ, chứng minh căn nhà trên là tài sản riêng của bà, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định giá trị tài sản của cụ Noãn là 1/2 căn nhà để chia thừa kế là không đúng.

Tại bản án phúc thẩm số 247/2006/DSPT ngày 27-6-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ngày 15-9-2006 và ngày 07-10-2006, bà Khương Nguyệt Hoa có đơn khiếu nại, đề nghị xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, với lý do:

1- Việc bà mua nhà của cụ Diệp Tú Anh hoàn toàn ngay thẳng, từ khi bà mua năm 1989 cho đến thời gian dài sau này không ai tranh chấp.

2- Nếu còn người được hưởng thừa kế thì cụ Diệp Tú Anh mới là người phải trả cho các đồng thừa kế này chứ không phải là bà.

Tại Quyết định số 161/2007/KN-DS, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và bản án dân sự sơ thẩm số 13/2006/DSST ngày 09-01-2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật với nhận định:

Nguồn gốc căn nhà số 98 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 2, quận 5, thành phố thành phố Hồ Chí Minh là của vợ chồng cụ Tất Noãn và cụ Diệp Tú Anh. Vợ chồng cụ Tất Noãn, cụ Diệp Tú Anh có 8 người con chung là bà Diệp Tô (chết năm 2000, không có chồng, con), bà Diệp Tô Muội (chết năm 1986), bà Tất Nữ, ông Tất Kim Thành (chết năm 1984, có vợ là bà Khương Nguyệt Hoa và 5 người con), bà Tất Thu Nữ, ông Tất Châu Chảy (chết năm 1989, không có con), bà Tất Há Nữ và bà Tất Ngân.

Năm 1980 cụ Noãn chết, không để lại di chúc. Sau khi cụ Noãn chết, cụ Tú Anh và vợ chồng bà Khương Nguyệt Hoa (bà Hoa là con dâu cụ Tú Anh) quản lý, sử dụng nhà.

Ngày 16-8-1989 bà Tất Nữ, bà Tất Ngân, bà Diệp Tô làm “Tờ ưng thuận” có nội dung đồng ý để cụ Tú Anh bán căn nhà nêu trên; ngày 18-8-1989 bà Tất Há Nữ lập “Tờ cam kết” cùng có nội dung chấp thuận cho cụ Tú Anh bán căn nhà để lấy tiền dưỡng già (trên hai văn bản có chữ ký của bà Tất Nữ, bà Tất Ngân, bà Diệp Tô, bà Tất Há Nữ và có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường). Ngày 18-8-1989 cụ Tú Anh lập "Văn tự chuyển nhượng và thụ nhượng nhà” để chuyển nhượng căn nhà trên cho bà Khương Nguyệt Hoa với giá 1.500.000 đồng (văn tự này có chữ ký của bà Tú Anh, bà Hoa và có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường); việc chuyển nhượng đã được ủy ban nhân dân quận 5, thành phố Hồ Chí Minh cho phép chuyển nhượng tại “Giấy phép mua, bán chuyển dịch nhà cửa” số 1101/GP-UB ngày 05-12-1989 và bà Hoa đã làm thủ tục sang tên trước bạ vào ngày 21-12-1989.

Như vậy, có căn cứ xác định, trong số 7 người con của cụ Noãn (trừ ông Tất Châu Chảy chết, không có vợ con) thì 5 người gồm bà Tất Nữ, bà Tất Ngân, bà Diệp Tô, bà Tất Há Nữ và những người thừa kế của ông Tất Kim Thành đã đồng ý bằng văn bản để cụ Tú Anh bán nhà từ năm 1989, bà Hoa (người mua nhà) đã làm các thủ tục theo quy định của Nhà nước và đến năm 2000 bà Hoa đã chuyển nhượng căn nhà trên cho bà Lý Thị Ngọc Lang (việc bà Hoa sang nhượng căn nhà cho bà Lang là hợp pháp và theo đúng quy định của pháp luật); trong suốt thời gian đó, những người con của cụ Noãn không phản đối, mà đến tháng 3 năm 2001 bà Tất Há Nữ mới khởi kiện. Ngoài ra, khi thỏa thuận mua bán nhà, tại “Tờ cam kết” ngày 18-8-1989 bà Hoa đã cam kết neeis sau này mẹ tôi (cụ Tú Anh) bán đứt căn nhà số 98  Huỳnh Mẫn Đạt cho tôi thì bổn phận tôi phải nuôi mẹ tôi và cho mẹ tôi ở lại đến khi nào mẹ tôi mãn phần. Và trong thực tế, bà Hoa đã thực hiện cam kết nêu trên (vẫn để cụ Tú Anh ở tại căn nhà này và bà Hoa vẫn chăm sóc cụ Tú Anh khi cụ Tú Anh còn sống, lo mai táng cho cụ Tú Anh khi cụ chết, sau khi cụ Tú Anh chết được hơn 3 năm, bà Hoa mới sang nhượng căn nhà cho bà Lang). Như vậy, bà Hoa đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bà đối với cụ Tú Anh.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng bà Hoa không thực hiện theo cam kết ngày 18-8-1989, đồng thời đánh giá không đúng sự tự nguyện của các bà Tất Nữ, Tất Ngân, Diệp Tô, Tất Há Nữ để xác định không có việc cụ Tú Anh bán nhà cho bà Hoa; từ đó chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn, chia thừa kế phần tài sản của cụ Tất Noãn và buộc bà Hoa thanh toán bằng tiền cho các thừa kế là không đúng. Trong trường hợp này, vì việc mua bán nhà đã xảy ra trên 10 năm, người mua đã bán lại cho người thứ ba, lẽ ra phải bác yêu cầu chia thừa kế của các bà Tất Nữ, Tất Ngân, Diệp Tô và Tất Há Nữ mới đúng (vì các bà này đã ký tên ở văn bản đồng ý cho cụ Tú Anh bán nhà); riêng đối với bà Tất Thu Nữ và các thừa kế của bà Diệp Tô Muội thì phải xác minh để làm rõ: nếu bà Tất Thu Nữ và các con bà Muội biết việc cụ Tú Anh bán nhà nhưng không có ý kiến phản đối thì phải xác định là đã đồng ý để cụ Tú Anh bán nhà, nếu bà Thu Nữ và các con bà Muội không biết việc cụ Tú Anh bán nhà thì phải xác định cụ Tú Anh có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần mà bà Thu Nữ và bà Muội được hưởng đối với di sản của cụ Tất Noãn cho bà Thu Nữ và các thừa kế của bà Muội (do cụ Tú Anh đã chết, việc thanh toán kỷ phần này chỉ được thực hiện khi cụ Tú Anh còn để lại di sản khác).

Mặt khác, việc mua bán giữa bà Hoa và bà Lang đã hoàn tất thủ tục, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đưa bà Lý Thị Ngọc Lang tham gia tố tụng là đúng, nhưng không có quyết định giải quyết về hợp đồng mua bán nhà giữa bà Hoa với bà Lang là không giải quyết triệt để vụ án.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thì: Nguồn gốc căn nhà 98 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh hiện bà Lý Thị Ngọc Lang quản lý, sử dụng là của vợ chồng cụ Tất Noãn và cụ Diệp Tú Anh. Vợ chồng cụ Tất Noãn, cụ Diệp Tú Anh có 8 người con chung là bà Diệp Tô (chết năm 2000, không có chồng, con), bà Diệp Tô Muội (chết năm 1986), bà Tất Nữ, ông Tất Kim Thành (chết năm 1984, có vợ là bà Khương Nguyệt Hoa và 5 người con), và Tất Thu Nữ, ông Tất Châu Chảy (chết năm 1989, không có con), bà Tất Há Nữ và bà Tất Ngân.

Năm 1980 cụ Noãn chết, không để lại di chúc. Sau khi cụ Noãn chết, cụ Tú Anh, bà Diệp Tô và vợ chồng bà Khương Nguyệt Hoa cùng các con của vợ chồng bà Hoa quản lý, sử dụng nhà, còn những người con khác của cụ Tú Anh có nhà riêng ở chỗ khác.

Ngày 16-8-1989 bà Tất Nữ, bà Tất Ngân, bà Diệp Tô lập “Tờ ưng thuận” có nội dung đồng ý để cụ Tú Anh bán căn nhà nêu trên; ngày 06-11-1989 bà Tất Há Nữ lập “Tờ cam kết” cùng có nội dung chấp thuận cho cụ Tú Anh bán căn nhà để lấy tiền dưỡng già (hai văn bản trên có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường).

Tại tờ ưng thuận ngày 24-8-1989, ngày 29-8-1989 bà Diệp Tô, bà Tất Ngân, bà Tất Nữ và bà Tất Há Nữ đồng ý để cụ Tú Anh đứng tên làm thủ tục hợp thức hóa căn nhà trên và tại giấy phép số 892/GP-UB ngày 07-10-1989 UBND quận 5, thành phố Hồ Chí Minh đã công nhận cụ Tú Anh là chủ sở hữu căn nhà 98 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 18-8-1989 cụ Tú Anh lập “Văn tự nhượng và thụ nhượng nhà” có nội dung chuyển nhượng căn nhà trên cho bà Khương Nguyệt Hoa với giá 1.500.000 đồng (có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường cùng ngày); tại giấy phép số 1101/GP-UB ngày 05-12-1989 UBND quận 5, thành phố Hồ Chí Minh đã chấp thuận cho cụ Tú Anh sang nhượng căn nhà nêu trên. Sau khi nhận chuyển nhượng, ngày 21-12-1989, bà Hoa đã làm thủ tục kê khai, nộp thuế trước bạ và đứng tên sở hữu căn nhà.

Như vậy, có căn cứ xác định trong số 7 người con của cụ Noãn (trừ ông Tất Châu Chảy chết, không có vợ con) thì 5 người con khác là bà Tất Nữ, bà Tất Ngân, bà Diệp Tô, bà Tất Há Nữ và những người thừa kế của ông Tất Kim Thành đã đồng ý bằng văn bản để cụ Tú Anh bán nhà từ năm 1989, bà Hoa (người mua nhà) đã làm các thủ tục theo quy định của Nhà nước và đến năm 2000 bà Hoa đã chuyển nhượng căn nhà trên cho bà Lý Thị Ngọc Lang (việc bà Hoa sang nhượng căn nhà cho bà Lang là hợp pháp và theo đúng quy định của pháp luật).

Việc bà Hoa làm thủ tục đứng tên sở hữu căn nhà, sau đó sang nhượng căn nhà cho bà Lang thì cụ Tú Anh khi còn sống và những người con của cụ Noãn, cụ Tú Anh không phản đối, tranh chấp mà mãi đến tháng 3- 2001 (sau khi cụ Tú Anh chết khoảng hơn 4 năm) thì bà Tất Há Nữ mới khởi kiện.

Đồng thời có đủ căn cứ xác định bằng việc đồng ý để cụ Tú Anh hợp thức căn nhà đứng tên cụ Tú Anh thì bà Tất Há Nữ, bà Tất Ngân, Bà Tất Nữ, bà Diệp Tô và những người thừa kế của ông Tất Kim Thành đã tự nguyện nhường kỷ phần mà họ được hưởng thừa kế từ tài sản của cụ Noãn cho cụ Tú Anh, nên cụ Tú Anh có quyền định đoạt phần tài sản của cụ (bao gồm cả phần mà cụ được hưởng thừa kế tài sản của cụ Noãn) và kỷ phần thừa kế của 5 người nêu trên.

Việc cụ Tú Anh sang nhượng căn nhà 98 Huỳnh Mẫn Đạt cho bà Hoa, sau đó bà Hoa sang nhượng cho bà Lang đúng quy định của pháp luật (hoàn tất về thủ tục) và phù hợp với thực tế. Trong trường hợp này nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh chấp, khiếu nại về các hợp đồng sang nhượng căn nhà mà chỉ yêu cầu chia thừa kế tài sản  của cụ Noãn là 1/2 số tiền mà bà Hoa đã bán căn nhà cho bà Lang. Do đó, trong trường hợp này lẽ ra phải bác yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới đúng.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng không có việc cụ Tú Anh sang nhượng nhà cho bà Hoa, không có việc bà Hoa trả tiền mua nhà, còn Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng bà Hoa không thực hiện cam kết ngày 18-8-1989 và cả Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đánh giá không đúng về sự tự nguyện của các bà Tất Nữ, Tất Ngân, Diệp Tô, Tất Há Nữ và các người thừa kế của ông Tất Kim Thành để xác định không có việc cụ Tú Anh bán nhà cho bà Hoa; từ đó chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chia thừa kế phần tài sản của cụ Noãn và buộc bà Hoa thanh toán bằng tiền cho các thừa kế là không đúng.

Riêng đối với bà Tất Thu Nữ và những người thừa kế của bà Diệp Tô Muội thì Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ họ có biết hay không việc cụ Tú Anh bán nhà cho bà Hoa và ý kiến của họ khi cụ Tú Anh bán nhà. Trong trường hợp có đủ căn cứ xác định bà Tất Thu Nữ và những người thừa kế của bà Diệp Tô Muội biết cụ Tú Anh bán nhà và không phản đối thì phải xác định là họ cũng đã đồng ý để cụ Tú Anh bán nhà; trong trường hợp không biết hoặc biết và ngay sau đó phản đối, khiếu nại việc cụ Tú Anh bán nhà thì phải xác định cụ Tú Anh mới là người có nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế di sản của cụ Noãn cho bà Tất Thu Nữ và những người thừa kế của bà Muội, còn bà Hoa không phải chịu trách nhiệm này (do cụ Tú Anh đã chết nên nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp này được giải quyết từ di sản của cụ Tú Anh nếu cụ Tú Anh còn để lại di sản, nếu cụ Tú Anh không còn di sản thì phải đình chỉ việc giải quyết yêu cầu của bà Tất Thu Nữ và những người thừa kế của bà Muội).

Do đó, cần chấp nhận Kháng nghị số 161/2007/KN-DS ngày 10-8-2007 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm để thu thập thêm chứng cứ về những nội dung nêu trên và giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297, khoản 1 và khoản 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 247/2006/DSPT ngày 27-6-2006 của Tòa  phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy bản án dân sự số 13/2006/DS-ST ngày 09-01-2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là bà Tất Há Nữ với bị đơn là bà Khương Nguyệt Hoa.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chia tài sản thừa kế là không đúng.


135
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 41/2007/DS-GĐT ngày 14/12/2007 về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản

Số hiệu:41/2007/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/12/2007
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về