Quyết định giám đốc thẩm 33/2013/DS-GĐT ngày 17/05/2013 về vụ tranh chấp đòi tài sản giữa nguyên đơn ông Nguyễn Kim Hạnh và bị đơn ông Tăng Vĩnh Ký

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 33/2013/DS-GĐT NGÀY 17/5/2013 VỀ VỤ TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN GIỮA NGUYÊN ĐƠN ÔNG NGUYỄN KIM HẠNH VÀ BỊ ĐƠN ÔNG TĂNG VĨNH KÝ

Ngày 17-5-2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao, mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án “Tranh chấp đòi tài sản” giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Kim Hạnh sinh năm 1945, trú tại 152 Trương Công Định, phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; 

Bị đơn: Ông Tăng Vĩnh Ký sinh năm 1949, trú tại 126/6 Ba Cu, phường 3,thành phố Vũng-Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;  

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

1. Bà Nguyễn Thị Thông sinh năm 1948, trú tại 126/6 Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

2. Ông Nguyễn Đình Hân sinh năm 1937;

3. Bà Nguyễn Thị Nghĩa sinh năm 1935;

Ông Hân, bà Nghĩa cùng trú tại 52 Cách Mạng Tháng Tám, phường 5, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án: Lô đất số 9, tờ bản đồ số 10, ấp Bàu Sen, xã Thắng Tam, đường Nguyễn Thái Học, thị xã Vũng Tàu (sau đổi thành 57B Ba Cu nay là 244 đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu) rộng 14m, dài 70m thuộc quyền khai thác của cụ Hoàng Thị Mơ. Ngày 10-11-1964, cụ Mơ nhượng cho ông Nguyễn Trọng Lân thửa đất nêu trên. Ngày 24-7-1967, ông Lân lập “Giấy uỷ quyền” cho bà Lê Khắc Ngọc Luyện bán thửa đất này.

Ngày 07-6-1968, bà Luyện chuyển nhượng cho ông Lê Văn Liên phần đất giáp mặt đường Nguyễn Thái Học có chiều rộng 5m, dài 35m. Ngày 09-7-1968, bà Luyện chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Nga một phần đất giáp mặt đường Nguyên Thái Học (kế tiếp đất của ông Liên) có chiều rộng 5m, dài 35m. Tháng 7-1968, ông Liên chuyển nhượng lại phần đất của minh cho bà Nga. Các giấy tờ chuyên nhượng đất và ủy quyền nêu trên đều có chính quyền chế độ cũ chứng nhận.

Phần đất còn lại mặt đường 4m và phía sau đất của bà Nga, ông Liên sâu 35m, bà Luyện xây nhà có số là 57B Nguyễn Thái Học.

Tại Trích sao quyết định công nhận việc hòa giải thành số11/TA ngày 30-12-1976 của Tòa án nhân dân thị xã Vũng Tàu có nội dung bà Luyện là chủ hụi còn nợ của 4 người tổng cộng là 1.130 đồng, bà Luyện đồng ý bán nhà 57B Nguyễn Thái Học lấy 2000 đồng để trả nợ.

Theo lời khai của bà Luyện và xác nhận của Thẩm phán là ông Nguyễn Minh Chánh phụ trách việc hòa giải thành vụ đòi nợ thì khi giải quyết tại Tòa án, bà Luyện bị bệnh nên uỷ quyền cho con là chị Tôn Nữ Ngọc An ký giấy bán nhà đất cho người mua. Ngày 02-4-1977, chị An ký giấy bán nhà 57B Nguyễn Thái Học cho vợ chồng ông Tăng Vĩnh Ký ngang 14m, sâu 70m, có khóm Bàu Sen và Uỷ ban nhân dân phường Thắng Tam xác nhận.

Ngày 5-4-1977, Tòa án nhân dân thị xã Vũng Tàu lập biên lai nhận tiền số 01/TA có nội dung nhận của ông Ký 2.000 đồng do ông Ký đưa tiền mua nhà 57B Nguyễn Thái Học.

Cùng ngày 5-4-1977, Uỷ ban nhân dân thị xã Vũng Tàu có Giấy chứng nhận số 64/UB/TX xác nhận việc mua bán nhà 57B Nguyễn Thái Học của bà Luyện và ông Ký là hợp lệ, phải với điều kiện không được dỡ đi và đất là của Quốc gia không được sang bán.

Ngày 11-4-1984, bà Nga ký “Giấy bán nhà” để bán cho ông Nguyễn Kim Hạnh nền móng nhà và công trình phụ trên thửa đất rộng 10m, dài 35m giáp đường Nguyễn Thái Học với giá 80.000 đồng, giấy bán nhà không có xác nhận của chính quyền. Do đất đang bị ông Ký chiếm dụng, nên khoảng năm 1985 bà Nga khởi kiện đòi đất đối với ông Ký (không có đơn khởi kiện lưu trong hồ sơ). Tòa án nhân dân Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo đang giải quyết vụ án thì bà Nga xuất cảnh đi Anh. Ngày 21-1-1988, bà Nga lập giấy ủy quyền cho con là Trần Hưng Quốc có nội dung anh Quốc thay mặt bà Nga theo kiện đối với ông Ký, nếu sau này sự việc không giải quyết được anh Quốc sẽ thay bà Nga hoàn trả lại cho ông Hạnh 80.000 đồng tương đương 8,5 chỉ vàng; giấy ủy quyền có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường 2, Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo. Năm 1990, anh Quốc có “Đơn khiếu nại” yêu cầu ông Ký trả lại nền nhà. Khi chưa có kết quả giải quyết thì anh Quốc đi khỏi địa phương từ đó đến nay không rõ địa chỉ.

- Tại đơn kiện đề tháng 3-1996 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Nguyễn Kim Hạnh trình bày:

Ngày 11-4-1984, bà Nga bán cho ông nền móng nhà và công trình phụ trên thửa đất bà Nga nhận chuyển nhượng của bà Luyện và đất bà Nga nhận chuyển nhượng của ông Liên (ông Liên cũng nhận chuyển nhượng của bà Luyện), phần đất này đã được xây tường cách biệt với xung quanh; ông đã trả đủ tiền cho bà Nga và bà Nga giao cho ông giấy sang nhượng hoa mầu trênđất giữa bà Luyện với bà Nga và giữa bà Luyện với ông Liên, Trích lục địa bộ, hoạ đồ hiện trạng, Giấy phép xây cất của chính quyền chế độ cũ cấp cho phép bà Nga được xây dựng căn nhà vật liệu nhẹ trên đất tại đường Nguyễn Thái Học. Do chưa hiểu về thủ tục mua bán nhà đất nên ông chưa đem giấy bán nhà đến Ủy ban nhân dân chứng thực.

Cuối năm 1984, ông mới biết nhà đất có tranh chấp và đã yêu cầu bà Nga làm rõ việc này, bà Nga đã kiện ông Ký đòi khuôn viên nhà đất bị lấn chiếm. Năm 1985, Tòa án nhân dân Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo đã lấy lời khai của bà Nga, ông Ký và các nhân chứng; hoà giải giữa các đương sự. Tháng 01-1988, bà Nga đi xuất cảnh và có uỷ quyền cho con là anh Quốc tiếp tục khiếu kiện đòi nhà đất để trả cho ông, nhưng sau đó anh Quốc đi khỏi địa phương, nay không rõ địa chỉ.

Từ năm 1991, ông đã gửi nhiều đơn đề nghị chính quyền địa phương xem xét, giải quyết việc ông Ký lấn chiếm nền móng nhà đất của ông, nhưng Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã có thông báo số 17/TB-UBT ngày 23-01-1992 và Quyết đinh số 416/QĐ-UBT ngày 29-02-1996 đều không chấp nhận khiếu nại của ông. Ông khiếu nại tiếp và Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có Công văn số 994/CV-UBT ngày 17-4-1997 chuyển cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu giải quyết vụ việc theo thẩm quyền. Ông yêu cầu Toà án huỷ bỏ các văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; tiếp tục xét xử vụ án đòi tài sản giữa bà Nga với ông Ký; buộc ông Ký trả cho ông nền móng nhà trên 350m2 đất trước nhà 57B Ba Cu.

- Bị đơn là ông Tăng Vĩnh Ký trình bày:

Ngày 02-4-1977, theo sự hướng dẫn của Tòa án nhân dân thị xã Vũng Tàu, ông mua căn nhà cấp 4 trên diện tích đất rộng 14m, dài 70m tại 57B đường Nguyễn Thái Học của bà Luyện (do chị Tôn Nữ Ngọc An được uỷ quyền ký giấy bán nhà) với giá 2000 đồng. Ngày 05-4-1977, ông đã nộp 2000 đồng cho Tòa án nhân dân thị xã Vũng Tàu để trả tiền mua nhà đất.

Chị An đã chỉ ranh đất, giao nhà đất cho ông ngay sau khi mua nhà và vợ chồng ông đã quản lý, sử dụng nhà đất từ năm 1977. Khi mua nhà đất không có bức tường nào ở giữa. Ông đã xây 3 kiốt giáp mặt đường Nguyễn Thái Học. Quá trình ở đây, vợ chồng ông đã đăng ký, kê khai nhà đất nên đã được Sở xây dựng Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất ngày 31-10-1991.

Ngày 18-02-1992, vợ chồng ông bán nhà đất nêu trên cho vợ chồng bà Đinh Thị Dung và ông Mai Văn Tâm với giá 90 lượng vàng. Việc mua bán này có chứng thực của Công chứng Nhà nước tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ngày 20-02-1992. Từ đó đến nay ai quản lý nền đất này ông không rõ. Ông không có quan hệ gì với ông Hanh trong việc mua bán nhà đất 57B Nguyễn Thái Học, nên ông Hạnh không có quyền kiện ông ra Toà án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

+ Ông Nguyễn Đình Hân trình bày:

Ngày 17-2-1993, vợ chồng ông mua nhà đất số 57B Ba Cu. Thành phố Vũng Tàu của vợ chồng bà Dung và ông Tâm, chiều rộng 14m, chiều dài 70m với giá là 205 lượng vàng. Tại thời điểm mua bán, trên đất có một căn nhà cấp 4 và 3 kiốt sát mặt đường Ba Cu. Văn bản bán nhà có chứng thực của Uỷ ban nhân dân phường 3, thành phố Vũng Tàu ngày 18-2-1993; vợ chồng ông đã được Uỷ ban nhân dân thành phố Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất ngày 11-03-1993.

Từ khi mua nhà đất 57B Ba Cu đến nay, vợ chồng ông không ở đây, chưa đầu tư xây dựng gì thêm và cho người giúp việc ở để trông coi nhà đất. Vợ chống ông mua nhà đất là hợp pháp nên yêu cầu tiếp tục sử dụng nhà đất này.

+ Bà Đinh Thị Dung trình bày: Năm 1992, vợ chồng bà mua nhà đất 57B Ba Cu của vợ chồng ông Ký, bà Thông vói giá 90 lượng vàng. Khi mua vợ chồng bà kiểm tra giấy tờ sở hữu của ông Ký thấy hoàn toàn hợp pháp. Việc mua bán cũng đã làm đúng thủ tục do Nhà nước quy định, nên ngày 21-2-1992 vợ chồng bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất.

Năm 1993, vợ chồng bà đã bán toàn bộ nhà đất cho vợ chồng ông Hân, bà Nghĩa với giá 205 lượng vàng. Vợ chồng bà và vợ chồng ông Hân không có tranh chấp gì.

+ Bà Lê Khắc Ngọc Luyện trình bày: Đất của bà rộng 14m, sâu 70m. Năm 1968, bà đã bán cho ông Liên 5m, sâu 35m và bán cho bà Nga cũng 5m, sâu 35m liền với đất bán cho ông Liên. Phần đất còn lại, khoảng năm 1970 bà xây cửa ngõ vào và bức tường bằng gạch đỏ ngăn giữa đất của bà và đất của bà Nga. Do bà nợ hụi nên năm 1977 bà phải bán nhà đất còn lại của bà để lấy tiền trả nợ tại Tòa án. Khi đó bà bị bệnh nặng nên đã ủy quyền cho con gái là chị An ký giấy bán nhà đất. Bà nghe người mua nói bà bán căn nhà nằm trên lô đất dài 70m từ đường Nguyễn Thái Học là hoàn toàn sai sự thật, có thể con bà đã sơ xuất không chú ý đến chiều dài 70m và người đánh máy đánh nhầm, thực tể chỉ có 35m phía sau.

+ Chị Tôn Nữ Ngọc An trình bày: Năm 1968, bà Luyện bán cho ông Liên và bà Nga mỗi người một mảnh đất ngang 5m mặt đường Nguyễn Thái Học, dài 35m. Năm 1977, bà Luyện bị thiếu nợ, nên đã bán phần đất mà gia đình chị đang cư ngụ, nằm phía sau lô đất đã bán cho ông Liên, bà Nga, đi bằng lối đi bên hông đất bà Nga. Việc bán nhà trên tại Tòa án Vũng Tàu do ông Nguyễn Minh Chánh là Thẩm phán chủ trì. Chị có xem giấy bán nhà nhưng phần diện tích thì do sơ ý nên không xem rõ. Chị nhận khuyết điểm là khi ký giấy bán không xem rõ nội dung.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/DSST ngày 03-4-2001, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã quyết định:

Bác đơn yêu cẩu đòi quyền sở hữu tài sản nền móng nhà và diện tích đất 350m2 tọa lạc tại 57B Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu của ông Hạnh đổi với ông Kỷ.

Ồng Hạnh được quyền khởi kiện để yêu cầu bà Nga giải quyết quyền lợi (khi xác định được địa chỉ cụ thể).

Cấm ông Hân và bà Nghĩa không được xây dựng và phải giữ nguyên hiện trạng lô đất đang có tranh chấp đến khi cóquyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Ngày 08-4-2001, ông Hạnh kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm.

Tại Quyết định sổ 09/KN-DS ngày 12-4-2001, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kháng nghị bản án sơ thẩm nêu trên, đề nghị giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu đòi quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng đất cho ông Hạnh; buộc ông Ký thanh toán cho ông Hạnh giá trị quyền sử dụng 350m2 đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 318/PTDS ngày 28-9-2001, Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Hủy bản án dân sự sơ thẩm sổ 04/DSST ngày 03-4-2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 04-7-2002, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu quyết định:

Hủy một phần hợp đồng mua bản nhà giữa bà Luyện ủy quyền cho con gái là chị An với ông Kỷ và bà Thông vào ngày 02-4-1977. Chấp nhận hợp đồng mua bán nhà giữa ông Hạnh với bà Nga ngày 11-4-1984.

Buộc ông Kỷ và bà Thông hoàn trả ông Hạnh giá trị tài sản bị bao chiếm (10m x 35m) tại 244 Ba Cu, phường 3, thành phổVũng Tàu, theo thời điểm xét xử sơ thẩm tài sản trị giả: 1.071.000.000 đồng.

Ngày 10-7-2002, ông Ký kháng cáo cho rằng việc mua bán nhà giữa vợ chồng ông với chị An (do bà Luyện uỷ quyền) là hợp pháp; ông Hạnh không có quyền khởi kiện, nhưng Toà án buộc vợ chồng ông phải trả cho ông Hạnh giá trị quyền sử dụng đất là không đúng.

Ngày 10-7-2002, ông Hạnh kháng cáo yêu cầu được nhận lại đất.

Ngày 19-7-2002, ông Hân kháng cáo xin được sử dụng lô đất mà vợ chồng ông bà đã mua hợp pháp.

Tại Quyết định số 241/KN-DS ngày 16-7-2002, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, đề nghị giải quyết cho ông Hạnh được nhận lại đất sử dụng, giành, quyền khởi kiện cho vợ chồng ông Hân, vợ chồng ông Tâm và vợ chồng ông Ký thành vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu đối với người xác lập giao dịch dân sự với mình bồi thường thiệt hại.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 290/DSPT ngày 29-10-2002, Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Hủy bản án sơ thẩm sổ 12/DSST ngày 04-7-2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/DSST ngày 28-9-2004, Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu quỵết định:

+ Hủy một phần hợp đồng mua bán nhà giữa bà Luyện (uỷ quyền cho con gái là chị An) vói ông Ký và bà Thông lập ngày 02-4-1977. Chấp nhận hợp đồng mua bán nền móng nhà, vật kiến trúc giữa ông Hạnh vói bà Nga lập ngày 11-4- 1984.

+ Ông Hạnh được sử dụng diện tích đất ngang 8m x sâu 35m (phía mặt tiền) tại 244 đường Ba Cu, phường 3, thành phốVũng Tàu (Kèm theo sơ đồ vị trí của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thuộc Sở tài nguyên và môi trường tình Bà Rịa-Vũng Tàu lập ngày 02-6-2004, phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Hạnh Hội đồng xét xử ký hiệu là A) (có tứ cận kèm theo) và được sở hữu toàn bộ tài sản có trên đẩt nói trên,).

Ông Hân và bà Nghĩa được quyền sử dụng diện tích đất còn lại (cỏ tứ cận kèm theo).

Ông Kỷ và bà Thông có trách nhiệm thanh toán giá trị quyền sử dụng đất diện tích 8m x 35m tại 244 đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo định giá là 3.360.000.000 đồng cho ông Hân, bà Nghĩa.

Trong thời hạn luật định, ông Ký, bà Thông và ông Lưu Hướng Dương (đại diện theo uỷ quyền của ông Hân) có đơn kháng cáo và đề nghị bác yêu câu khởi kiện của ông Hạnh.

Ngày 11-10-2004, ông Hạnh có đơn kháng cáo, yêu cầu được nhận đất sử dụng

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 77/DSPT ngày 21-3-2005, Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

- Bác yêu cầu đòi sở hữu tài sản nền đất có diện tích 350m2 tọa lạc tại sổ 57B đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu của ông Hạnh.

- Ông Hạnh có quyền khởi kiện đòi tài sản (nền đất) đối với bà Nga, anh Quốc bằng một quan hệ pháp luật dân sự khác.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Hanh có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 84/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 14-8-2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy án sơ thẩm, phúc thẩm, giao cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Ria – Vũng Tàu xử sơ thẩm lại.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 38/2007/DS-GĐT ngày 13-12-2007, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm lại.

Tại Quyết định sơ thẩm số 11/2008/QĐ-ST ngày 23-7-2008, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý sổ 11/2008/TLST-DS ngày 26-2-2008; trà lại đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo cho ông Hạnh.

Ngày 4-8-2008, ông Hạnh kháng cáo đề nghị huỷ quyết định đình chỉ sơ thẩm

Ngày 12-8-2008, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có quyết định số 435/2008/QĐ/KNPT-P5 kháng nghị quyết định đình chỉ nêu trên.

Tại Quyết đinh phúc thẩm giải quyết việc kháng cáo đối vói quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 408/2008/QD-DSPT ngày 23-10-2008, Toà phủc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Huỷ quyết định đình chỉ xét xử vụ án dân sự sơ thẩm sổ 11/2008/QĐ-DSST ngày 23-7-2008 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giao hồ sơ về Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giải quyết theo thủ tục chung.

Sau đó, ông Nguyễn Kim Hạnh có đơn đề nghị sớm đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm lại.

Ông Nguyễn Đình Hân, bà Nguyễn Thị Nghĩa có đơn khiếu nại.

Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có công văn số 435/CV-TA ngày 23-12-2008 đề nghị xem xét lại quyết định phúc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 645/2011/KN-DS ngày 21-10-2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị quyết định dân sự phúc thẩm nêu trên, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy quyết định dân sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

Sau khi có quyết định kháng nghị, ông Hạnh có đơn không đồng ý với nội dung kháng nghị.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Diện tích đất hiện các bên đang tranh chấp có chiều rộng 10m, chiều đài 35m nằm giáp đường Nguyễn Thái Học, xã Thắng Tam, thị xã Vũng Tàu (nay là 244 đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu) nằm phía trước nhà 57B Nguyễn Thái Học, có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị Nga nhận chuyển nhượng của bà Lê Khắc Ngọc Luyện phần đất có chiều rộng 5m, chiều dài 35m và nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn Liên phần đât có chiều rộng 5m, chiều dài 35m vào năm 1968 (phần đất của ông Liên cũng nhận chuyển nhượng lại của bà Luyện). Việc chuyển nhượng đất giữa bà Nga với bà Luyện; giữa bà Nga với ông Liên có xác nhận của chính quyền địa phương, nhưng bà Nga chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Bà Luyện còn 01 căn nhà 57B Nguyễn Thái Học và phần đất phía sau đất của bà Nga.

Được sự ủy quyền của bà Luyện, năm 1977, chị Tôn Nữ Ngọc An (con bà Luyện) ký giấy bán nhà đất tại 57B Nguyễn Thái Học cho ông Tăng Vĩnh Ký tại Tòa án (để trả các khoản bà Luyện nợ một số người khác), nhưng trong hợp đồng chị An lại chuyển nhượng cả phần đất của bà Nga đã nhận chuyển nhượng vào năm 1968, sau đó ông Ký đã sử dụng phần đất của bà Nga nên đã xảy ra tranh chấp giữa bà Nga với ông Ký. Tranh chấp chưa được giải quyết xong, năm 1984 bà Nga chuyển nhượng nền móng nhà, công trình phụ cùng diện tích đất cho ông Nguyễn Kim Hạnh với giá 80.000 đồng (tương đương 8,5 chỉ vàng); việc chuyển nhượng mới làm giấy viết tay, chưa làm các thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi chuyển nhượng đất và tài sản trên đất cho ông Hạnh, bà Nga vẫn tranh chấp với ông Ký và trước khi đi xuất cảnh ra nước ngoài, ngày 21-1-1988 bà Nga lập “Giấy ủy quyền” cho anh Trần Hưng Quốc, với nội dung: xác nhận đã chuyển nhượng nhà đất tranh chấp cho ông Hạnh năm 1984, nhà đất đang bị ông Ký chiếm dụng, việc chuyển nhượng cho ông Hạnh chưa tiến hành được, bà Nga chuẩn bị xuất cảnh sang Anh quốc, nên ủy quyền để anh Quốc tiếp tục theo kiện, nếu không giải quyết được thi anh Quốc thay bà Nga trả lại tiền cho ông Hạnh, giấy ủy quyền có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường 2, thị xã Vũng Tàu.

Xét thấy, việc chuyển nhượng đất giữa bà Nga với ông Hạnh chưa hợp pháp, ông Hạnh chưa nhận được tài sản, thủ tục chuyển nhượng chưa đúng quy định của pháp luật, nên ông Hạnh chưa phải là chủ sử dụng hợp pháp diện tích đất nêu trên. Ông Hạnh cũng không được bà Nga ủy quyền để giải quyết tranh chấp với ông Ký.

Giữa ông Hạnh và ông Ký không có hợp đồng liên quan đến chuyển dịch tài sản tranh chấp. Do đó, ông Hạnh không có quyền khởi kiện đòi tài sản với ông Ký.

Tòa án cấp sơ thầm đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện cho ông Hạnh là đúng. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng giấy tờ bà Nga nhận chuyển nhượng đất có xác nhận của chính quyền, theo quy định sẽ được xem xét để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phải được giải quyết theo thủ tục chung, để hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án là không đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 2 Điều 297, Điều 298 Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 408/2008/QĐ-DSPT ngày 23-10-2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp đòi tài sản” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Kim Hạnh với bị đơn là ông Tăng Vĩnh Ký; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thông, ông Nguyễn Đình Hân, ba Nguyễn Thị Nghĩa.

2. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 11/2008/QĐ-ST ngày 23-7-2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.


116
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 33/2013/DS-GĐT ngày 17/05/2013 về vụ tranh chấp đòi tài sản giữa nguyên đơn ông Nguyễn Kim Hạnh và bị đơn ông Tăng Vĩnh Ký
  • Số hiệu:
    33/2013/DS-GĐT
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    17/05/2013
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
      Bản án/Quyết định đang xem

      Quyết định giám đốc thẩm 33/2013/DS-GĐT ngày 17/05/2013 về vụ tranh chấp đòi tài sản giữa nguyên đơn ông Nguyễn Kim Hạnh và bị đơn ông Tăng Vĩnh Ký

      Số hiệu:33/2013/DS-GĐT
      Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:17/05/2013
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về