Quyết định giám đốc thẩm 23/2007/HS-GĐT ngày 07/08/2007 về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 23/2007/HS-GĐT NGÀY 07/08/2007 VỀ TỘI LẠM DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 8 năm 2007, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

1. Nguyễn Văn Hưng sinh năm 1971; trú tại thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; con ông Nguyễn Văn Tại và bà Dương Thị Bất; bị bắt giam ngày 13-6-2004 (ngày 13-6-2006, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù theo quyết định của bản án phúc thẩm).

2. Dương Đình Mạc sinh năm 1954; trú tại thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; con ông Dương Văn Tĩnh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nhiên; bị bắt giam ngày 16-6-2004; ngày 28-4-2006 được trả tự do tại phiên tòa phúc thẩm.

3. Dương Văn Vĩnh sinh 1967; trú tại thôn Lạc Sơn, xã Thái Học, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; con ông Dương Văn Phục và bà Bùi Thị Liệu; tiền án: ngày 26-4-2000 bị Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng (chưa được xoá án tích).

4. Dương Văn Bộ sinh năm 1961; trú tại thôn Trại Nẻ, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; khi phạm tội là chủ nhiệm HTX thương mại An Lạc; con ông Dương Văn Chất và bà Nguyễn Thị Ngoạy; nhân thân: ngày 26-01-2000 bị Toà án nhân dân huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng (đã được xoá án tích); bị bắt giam ngày 24-6-2004.

5. Nguyễn Văn Biên sinh năm 1970; trú tại thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; khi phạm tội là Phó chủ nhiệm HTX thương mại An Lạc; con ông Nguyễn Gia Thiện và bà Dương Thị Lịch; bị bắt giam ngày 23-6-2004.

(Trong vụ án này còn có các bị cáo Dương Văn Chung, Dương Văn Quả, Nguyễn Đức Trường, Nguyễn Văn Oánh, Dương Văn Mịch, Dương Văn Dóc, Nguyễn Thị Tính, Mạc Văn Đề, Dương Văn Bồi bị kết án về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” và các bị cáo Nguyễn Tất Phường, Dương Thị Mơ, Dương Văn Lung, Nguyễn Văn Dỹ, Đào Văn Tường, Cao Xuân Nghiêm, Dương Văn Đạt, Nguyễn Văn Bào bị kết án về tội “Cưỡng đoạt tài sản”).

NHẬN THẤY

1. Trên cơ sở các hợp đồng thu phí của những năm trước, theo đề nghị của Nguyễn Văn Hưng, ngày 01-11-2003 Uỷ ban nhân dân xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã ký hợp đồng số 63/HĐ-UB, giao khoán thu phí giao thông trên địa bàn xã cho Nguyễn Văn Hưng với nội dung chính như sau:

- Giao cho bên (B), Nguyễn Văn Hưng được phép thu tiền của các lái xe chở than trên địa bàn xã với mức thu như sau: xe công nông đầu dọc thu 5.000 đồng/lượt, xe công nông đầu ngang thu 10.000 đồng/lượt và xe ôtô các loại thu 15.000 đồng/lượt.

- Đối với các xe vận chuyển than trái phép thì vận động thu tăng thêm trên cơ sở các lái xe tự nguyện.

- Thời gian của hợp đồng là một năm (kể từ ngày 01-11-2003 đến ngày 30-10-2004).

- Bên (B), Nguyễn Văn Hưng phải có trách nhiệm nộp khoản tiền khoán là: 200.000.000 đồng cho Uỷ ban nhân dân xã An Lạc; phải sửa chữa nhỏ khi đường bị hư hỏng nhẹ, phải góp 50% kinh phí sửa chữa cùng Uỷ ban nhân dân xã khi có hư hỏng lớn. 

Từ ngày 25-10-2003, Nguyễn Văn Hưng đã nộp vào quỹ của xã An Lạc số tiền 190.000.000 đồng (theo yêu cầu của Uỷ ban nhân xã An Lạc) và vận động anh em, bạn bè góp vốn cùng Hưng thành lập Tổ thu phí giao thông do Hưng phụ trách. Các thành viên tham gia góp vốn chia làm 14 xuất, cụ thể: Nguyễn Văn Hưng góp 2,5 xuất, Dương Văn Chung góp 2 xuất, Dương Đình Mạc, Dương Văn Quả, Dương Văn Mịch, Nguyễn Đức Trường, Nguyễn Văn Oánh, Nguyễn Văn Biên, Dương Văn Vĩnh và Dương Văn Bộ  mỗi người góp 01 xuất, Nguyễn Thị Tính, Dương Văn Dóc và Mạc Văn Đề mỗi người góp 1/2 xuất. Với số tiền góp của mỗi xuất là 19.500.000 đồng.

Sau khi cùng mọi người thống nhất thành lập Tổ thu phí, Hưng đã chỉ đạo lập 03 trạm Barie chặn đường để thu tiền của các lái xe; đồng thời họp bàn, thống nhất việc tự nâng mức thu cao hơn so với hợp đồng (nhằm mục đích nhanh thu hồi vốn và có lợi nhuận). Cụ thể nâng mức thu lên từ 40.000 đồng đến 80.000 đồng, 100.000 đồng/chuyến và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên cụ thể: Nguyễn Văn Hưng phụ trách chung, lo ngoại giao; Dương Đình Mạc làm kế toán kiêm thủ quỹ, theo dõi việc thu chi hàng ngày và chia lợi nhuận hàng tháng; Dương Văn Mịch, Dương Văn Quả, Dương Văn Dóc, Nguyễn Văn Oánh trực tiếp thu tiền tại các trạm; Nguyễn Thị Tính lo phục vụ ăn uống.

Việc Hưng và đồng bọn lợi dụng việc nhận khoán để tự nâng mức thu cao hơn so với hợp đồng kéo dài từ tháng 11-2003 (lúc đầu các lái xe phản ứng, nhưng đều bị đe dọa giữ xe không cho qua nên các lái xe buộc phải chấp nhận) đến ngày 12-6-2004, khi Tô Dương Trang và Dương Văn Quả đang thu tiền của anh Vũ Văn Tuy thì bị Công an tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Kết quả điều tra đã xác định được: từ tháng 11-2003 đến khi bị bắt, Hưng và đồng bọn đã thu của 30 người lái xe với tổng số 5.308 chuyến xe các loại bằng 336.700.000 đồng; trừ số tiền thu theo hợp đồng là 150.790.000 đồng, Hưng và đồng bọn đã thu vượt và chiếm đoạt số tiền là 185.910.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt trên đã được chia như sau: Hưng 2,5 xuất bằng 33.198.215 đồng; Dương Văn Chung 2 xuất bằng 26.558.572 đồng; Dương Đình Mạc, Dương Văn Quả, Dương Văn Vĩnh, Dương Văn Mịch, Nguyễn Đức Trường, Nguyễn Văn Oánh, Nguyễn Văn Biên và Dương Văn Bộ mỗi người 01 xuất bằng 13.279.286 đồng; Nguyễn Thị Tính, Dương Văn Dóc và Mạc Văn Đề mỗi người 1/2 xuất bằng 6.639.643 đồng.

2. Cũng trong khoảng thời gian trên, mặc dù không được phép của cơ quan có thẩm quyền, Dương Văn Bộ - Chủ nhiệm hợp tác xã thương mại An Lạc đã đề xuất và chỉ đạo Nguyễn Văn Biên - Phó chủ nhiệm hợp tác xã, Dương Thị Mơ- thủ quỹ hợp tác xã, Nguyễn Tất Phường - kế toán hợp tác xã và Dương Văn Lung, lập các trạm Barie chặn đường để thu tiền của các lái xe chở than trên các tuyến đường thôn Bờ Dọc, Chùa Đụn và Ninh Công. Dương Văn Bộ đã phân công Nguyễn Văn Biên phụ trách lập các trạm Barie, kiểm tra và theo dõi việc thu chi hàng ngày tại các trạm; Nguyễn Tất Phường lập sổ kế toán theo dõi thu chi hàng ngày; Dương Thị Mơ thủ quỹ, thu tiền ở các trạm hàng ngày và quản lý thu chi, phân công những người trực tiếp thu tại các trạm; Dương Văn Lung giám sát việc thu chi của Mơ và Phường, cùng Phường và Mơ thiết kế, in phiếu mẫu bán cho các lái xe để xuất trình khi qua các trạm. Để thực hiện việc thu tiền tại các trạm, Dương Văn Bộ đã thuê và trả công 800.000 đồng/tháng cho các đối tượng gồm: Cao Xuân Nghiêm, Dương Văn Đạt, Nguyễn Văn Bào, Ngô Văn Tuấn, Nguyễn Văn Dỹ và Đào Văn Tường. Ngoài ra, Bộ còn thuê Nguyễn Văn Thanh làm nhiệm vụ thường xuyên có mặt tại các trạm để đe dọa buộc các lái xe phải nộp tiền nếu các lái xe phản ứng.

Kết quả điều tra xác định được: trong thời gian từ tháng 01-2004 đến khi bị bắt (ngày 12-6-2004), Dương Văn Bộ cùng đồng bọn đã lập trạm thu tiền trái phép của 33 người bị hại với 4.750 chuyến xe các loại bằng số tiền là 464.140.000 đồng. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt trên, Dương Văn Bộ yêu cầu nhập quỹ và sử dụng cá nhân hết, đối với Nguyễn Văn Biên, Nguyễn Tất Phường, Dương Thị Mơ được Bộ trả lương với mức 1.000.000 đồng/tháng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 124/2005/HSST ngày 08-12-2005, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương quyết định:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 280; các điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; (riêng đối với Dương Đình Mạc, Dương Văn Chung, Dương Văn Vĩnh áp dụng thêm Điều 47; đối với Dương Văn Chung, Dương Văn Vĩnh áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 48) Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Hưng 06 năm 06 tháng tù, Dương Đình Mạc 05 năm tù, Dương Văn Chung 42 tháng tù, Dương Văn Vĩnh 36 tháng tù đều về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 280; các điểm h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự; xử phạt Tô Dương Trang 15 tháng tù về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 135; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 46; (đối với Dương Thị Mơ và Nguyễn Tất Phường áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 47) Bộ luật hình sự; xử phạt Dương Văn Bộ 08 năm tù, Dương Thị Mơ 06 năm tù, Nguyễn Tất Phường 05 năm 06 tháng tù đều về tội Cưỡng đoạt tài sản.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 280; điểm a khoản 3 Điều 135; các điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 47 và điểm a khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Biên 30 tháng tù về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, 06 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản; tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 08 năm 6 tháng tù.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt 09 bị cáo khác từ 12 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” và 07 bị cáo khác bị xử phạt từ 15 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo; quyết định về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo. 

- Ngày 12-12-2005, các bị cáo Nguyễn Văn Hưng, Dương Đình Mạc, Dương Văn Chung, Nguyễn Văn Biên, Dương Văn Bộ có đơn kháng cáo đề nghị  xem xét lại tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ngày 15-12-2005, bị cáo Dương Văn Vĩnh có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt; ngày16-12-2005, bị cáo Vĩnh có đơn kháng cáo kêu oan.

- Ngày 16-12-2005, bị cáo Dương Thị Mơ có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

- Ngày 14-12-2005, bị cáo Tô Dương Trang có đơn kháng cáo kêu oan, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trang xin rút kháng cáo và Tòa án cấp phúc thẩm đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 412/2006/HSPT ngày 28-4-2006, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội, sửa bản án hình sự sơ thẩm và quyết định:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 280; các điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; (đối với Dương Văn Chung, Dương Văn Vĩnh áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 48) Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Hưng 24 tháng tù, Dương Đình Mạc 22 tháng 12 ngày tù, Dương Văn Chung 30 tháng tù, Dương Văn Vĩnh 24 tháng tù đều về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 135; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 46; (đối với Dương Thị Mơ và Nguyễn Tất Phường áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 47) Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Văn Bộ 05 năm tù, Dương Thị Mơ 36 tháng tù, Nguyễn Tất Phường 36 tháng tù đều về tội Cưỡng đoạt tài sản.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 280; điểm a khoản 3 Điều 135; các điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 47 và điểm a khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Biên 18 tháng tù về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, 42 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản; tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 05 năm tù.

Tại quyết định Kháng nghị số 10/2007/HS-TK ngày 11-04-2007, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 412/2006/HSPT ngày 28-04-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Quyết định số 01/2007/HS-TK ngày 07-8-2007, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyết định rút kháng nghị đối với bị cáo Nguyễn Tất Phường vì lý do Nguyễn Tất Phường đã được đặc xá theo quyết định số 1180/2006/QĐ-CTN ngày 27-10-2006 của Chủ tịch nước; bị cáo Dương Văn Chung, Dương Thị Mơ vì lý do Dương Văn Chung, Dương Thị Mơ cũng đã được đặc xá theo quyết định số 953/2006/QĐ-CTN ngày 25-8-2006 của Chủ tịch nước.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

 Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Nguyễn Văn Hưng, Dương Đình Mạc, Dương Văn Chung, Dương Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Biên về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”; Dương Văn Bộ, Nguyễn Tất Phường, Nguyễn Văn Biên, Dương Thị Mơ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, về áp dụng pháp luật Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm có những sai lầm sau đây:

Đối với các bị cáo bị kết án về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

Trong thời gian từ ngày 01-11-2003 đến ngày 12-6-2004, lợi dụng việc được Uỷ ban nhân dân xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương giao thu phí giao thông (thông qua hợp đồng giao khoán số 62/HĐ-UB) và lợi dụng việc lái xe vận chuyển than trái phép trên địa bàn xã, Nguyễn Văn Hưng và đồng bọn đã họp bàn thống nhất thành lập tổ thu phí, dựng các trạm Barie ngăn đường để buộc các lái xe phải nộp số tiền cao hơn mức quy định do Uỷ ban nhân dân xã An Lạc cho phép và chiếm đoạt 185.910.000 đồng. Hành vi phạm tội của Hưng và các bị cáo thuộc trường hợp quy định tại các điểm a (có tổ chức), c (phạm tội nhiều lần), đ (chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng) khoản 2 Điều 280 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 06 năm đến 13 năm tù. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn Hưng có vai trò chính là người trực tiếp có đơn xin nhận khoán, đứng ra thành lập tổ thu phí, đề xuất việc nâng mức thu cao hơn quy định, có số vốn góp lớn nhất và cũng là người chiếm đoạt nhiều nhất, còn các bị cáo Dương Đình Mạc, Dương Văn Chung, Dương Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Biên tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức; riêng các bị cáo Dương Văn Chung, Dương Văn Vĩnh đã có một tiền án về tội đánh bạc nhưng chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm chỉ áp dụng một tình tiết định khung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 280 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là thiếu sót. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xét đến những tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo là đã bồi thường phần lớn cho người bị hại và có thái độ khai báo thành khẩn và đã xét đến nguyên nhân các bị cáo phạm tội là có phần lỗi của chính quyền xã đã quản lý lỏng lẻo khi cho phép Nguyễn Văn Hưng cùng đồng bọn được phép thu phí tăng nên chỉ xử phạt Nguyễn Văn Hưng 06 năm 06 tháng tù, Dương Đình Mạc 05 năm tù, Dương Văn Chung 42 tháng tù, Dương Văn Vĩnh 36 tháng tù, Nguyễn Văn Biên 30 tháng tù không phải là quá nặng.

Tòa án cấp phúc thẩm cũng có sai lầm khi cho rằng hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ có một tình tiết định khung quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 280 Bộ luật hình sự, nhưng số tiền chiếm đoạt ở mức cao nhất của khung hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo có bồi thường thêm như Nguyễn Văn Hưng chỉ bồi thường thêm 12.500 đồng, Dương Đình Mạc bồi thường thêm 6.765.000 đồng nhưng là trong phạm vi phần mà các bị cáo được hưởng, chứ chưa bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của những người bị hại. Các bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại giảm hình phạt cho bị cáo Hưng còn 24 tháng tù, Mạc còn 22 tháng 12 ngày tù, Chung còn 30 tháng tù, Vĩnh còn 24 tháng tù, Biên còn 18 tháng tù là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Đối với các bị cáo bị kết án về tội “ Cưỡng đoạt tài sản”.

Tuy không có chức năng, không được phép của cơ quan có thẩm quyền, nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 01-2004 đến ngày 12-6-2004, lợi dụng việc khai thác vận chuyển than trái phép trên địa bàn xã An Lạc và lợi dụng chức năng được phép khai thác, thu gom và kinh doanh trên địa bàn xã An Lạc, Dương Văn Bộ là chủ nhiệm hợp tác xã thương mại An Lạc đã chỉ đạo Nguyễn Văn Biên, Nguyễn Tất Phường và một số đối tượng khác giúp dựng các trạm thu phí để buộc các lái xe chở than phải nộp tiền khi qua các trạm và chiếm đoạt với số tiền 464.140.000 đồng, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 135 Bộ Luật hình sự có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm. Đồng thời, hành vi phạm tội của các bị cáo đã phạm vào 2 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm a (phạm tội có tổ chức) và điểm g (phạm tội nhiều lần) khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, lẽ ra phải truy tố và xét xử bị cáo Dương Văn Bộ về hai tội: lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và cưỡng đoạt tài sản vì trong nhóm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, Bộ có tham gia góp vốn 19.500.000 đồng và được chia số tiền chiếm đoạt của những người bị hại theo số tiền bị cáo đã góp nên bị cáo có vai trò đồng phạm của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không truy tố Bộ về tội này là còn bỏ lọt tội phạm. Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, bị cáo Dương Văn Bộ có vai trò chính, là người đề xuất, chỉ đạo lập các trạm Barie để thu tiền của các lái xe, thuê các đối tượng ngoài Hợp tác xã tham gia trực tiếp thu tiền tại các trạm, phân công Biên, Mơ, Phường thực hiện việc lập các trạm, theo dõi và quản lý toàn bộ số tiền thu được và là người sử dụng toàn bộ số tiền chiếm đoạt, quá trình điều tra và tại các phiên tòa không thành khẩn, còn các bị cáo Nguyễn Tất Phường, Nguyễn Văn Biên, Dương Thị Mơ tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực.

Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là không đúng. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với từng bị cáo nên chỉ xử phạt Dương Văn Bộ 08 năm tù, Nguyễn Văn Biên 06 năm tù, Dương Thị Mơ 06 năm tù, Nguyễn Tất Phường 05 năm 06 tháng tù không phải là nặng.

Tòa án cấp phúc thẩm cũng có sai lầm khi cho rằng hành vi phạm tội của các bị cáo không phải là phạm tội có tổ chức; đồng thời lại quá nhấn mạnh việc bị cáo Biên đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị cáo Bộ đã bồi thường thêm trước khi xét xử phúc thẩm là 299.444.000 đồng, trong tổng số 407.869.000 đồng còn phải bồi thường để giảm hình phạt cho bị cáo Dương Văn Bộ còn 05 năm tù là mức án dưới mức khởi điểm của khung hình phạt nhưng lại không áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự là không đúng pháp luật. Đồng thời giảm án cho các bị cáo Nguyễn Văn Biên 42 tháng tù là không đúng pháp luật, chưa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm của địa phương.

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với các bị cáo Dương Văn Chung, Nguyễn Tất Phường, Dương Thị Mơ là có căn cứ và cần thiết, nhưng do các bị cáo trên đã được Chủ tịch nước đặc xá nên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa giám đốc thẩm.

Do vậy cần hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại xem xét cân nhắc kỹ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng để có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 285; Điều 287 và Điều 289 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 412/2006/HSPT ngày 28-4-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về hình phạt đối với Nguyễn Văn Hưng, Dương Đình Mạc, Dương Văn Vĩnh, Dương Văn Bộ, Nguyễn Văn Biên.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

3. Tiếp tục tạm giam các bị cáo đã bị bắt giam cho đến khi Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội thụ lý lại vụ án.

Lý do bản án phúc thẩm bị hủy một phần:

Tòa án cấp phúc thẩm đã sai lầm trong việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên quyết định hình phạt chưa tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.


184
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 23/2007/HS-GĐT ngày 07/08/2007 về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

Số hiệu:23/2007/HS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/08/2007
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về