Quyết định giám đốc thẩm 106/2014/DS-GĐT ngày 20/03/2014 về vụ án xin ly hôn

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 106/2014/DS-GĐT NGÀY 20/03/2014 VỀ VỤ ÁN XIN LY HÔN

Họp phiên tòa ngày 20/3/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án “Xin ly hôn”. Do có kháng nghị số 597/2013/KN-DS ngày 27-12-2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 29/DSPT ngày 08-4-2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn Xứng, sinh năm 1956; trú tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Bà Hồ Thị Bích Liên, sinh năm 1958; trú tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (do bà bà Trương Thúy Phượng, Phó Giám đốc Phòng giao dịch Hòa Khánh đại diện theo ủy quyền).

2. Ông Lê Văn Tư, sinh năm 1934;

3. Anh Lê Văn Thông, sinh năm 1983;

4. Chị Lê Thị Bích Nga, sinh năm 1975;

5. Anh Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1975;

6. Chị Lê Thị Bích Hằng, sinh năm 1978;

7. Chị Lê Thị Lành, sinh năm 1981;

8. Anh Lê Văn Phú, sinh năm 1984;

9. Bà Lê Thị Ngọc Thích Kim Duyên, sinh năm 1992;

Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trú tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

NHẬN THẤY

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 24-8-2009 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Lê Văn Xứng trình bày: Ông và bà Hồ Thị Bích Liên chung sống với nhau từ năm 1975, không đăng ký kết hôn. Năm 1994, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân. Quá trình chung sống, ông và bà Liên có 06 người con chung, gồm: chị Lê Thị Bích Nga, sinh năm 1975; chị Lê Thị Bích Hằng, sinh năm 1978; chị Lê Thị Lành, sinh năm 1981; anh Lê văn Thông, sinh năm 1981; anh Lê Thanh Phú, sinh năm 1984 và chị Lê Thị Ngọc Thích Kim Duyên, sinh năm 1992.

Trong quá trình chung sống vợ chồng ông đã tạo lập được 15.443m2 đất ruộng tại ấp Hưng Lợi, xã Thanh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp; 16.003m2 đất ruộng, vườn tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; 01 căn nhà bán kiên cố tại thửa đất 1932 ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, Tiền Giang và 1 số tài khác (01 máy dầu hiệu Kubota, 01 thùng suốt lúa, 01 máy TS80, 01 máy Honda 8 ngựa, 01 máy Misshumisi, 01 máy D10, 02 bộ ngựa gõ, 04 tủ cây thao lao đựng quần áo, 01 tủ để ti vi, 01 ti vi hiệu Sony, 01 đầu đĩa hiệu Dalin, 01 cặp loa thùng, 01 amply, 01 ghe trọng tải 70 giạ, 01 xuồng 30 giạ, 02 giường ngủ).

Về nợ chung: vợ chồng ông nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triên nông thôn huyện Cái Bè 15.000.000đ, nợ ông Tư (cha của ông) 08 chỉ vàng 24kr 9,8 tuổi; nợ anh Lê Văn Thông (con của ông và bà Liên) 05 chỉ vàng 24kr 9,8 tuổi.

Do tình cảm vợ chồng không còn, ông và bà Liên đã sống ly thân từ lâu nên ông xin được ly hôn với bà Liên và yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản như sau: ông đồng ý cho con gái là Lê Thị Bích Nga thửa đất số 1939 diện tích 2.100m2 tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; số tài sản chung còn lại và nợ chung yêu cầu Tòa án chia đôi theo quy định của pháp luật, về con chung, do các con đã trưởng thành nên ông không yêu càu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là bà Hồ Thị Bích Liên trình bày: Bà nhất trí với lời khai của ông Xứng về quan hệ hôn nhân và các con chung và bổ sung như sau: Từ năm 1994, ông Xứng chung sống như vợ chồng với bà Trương Thị Nhã tại Đồng Tháp, sau đó chuyển về Kiên Giang sinh sống, bỏ mặc một mình bà nuôi 06 người con cho đến nay. Vì vậy, bà đồng ý ly hôn ông Xứng và không yêu cầu giải quyết việc nuôi con vì 06 người con đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung: hai vợ chồng bà có tạo lập được số diện tích đất như lời trình bày của ông Xứng. Tuy nhiên, phần lớn số đất này được tạo lập, quản lý, cải tạo và phát triển bởi công sức của bà. Từ năm 1994 đến nay một mình bà vừa nuôi con, vừa canh tác và cải tạo đất, lên liếp trồng cây. Ngoài ra, bà còn tự bỏ tiền ra mua sắm máy móc phục vụ cho việc canh tác, sản xuất và các vật dụng trong gia đình. Do đó, bà chỉ đồng ý chia cho ông Xứng 6.500m2 đất ruộng tại ấp Hưng Lợi, xã Thanh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp và một nền nhà thổ cư để ở tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè. Bà đồng ý cho con là Lê Thị Bích Nga thửa đất số 1939 diện tích 2.100m2 tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, số tài sản còn lại yêu cầu Tòa án chia cho bà được quyền sử dụng.

Về nợ chung: Bà chỉ chấp nhận khoản nợ 15.000.000 vay Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cài Bè, đối với khoản nợ này bà yêu cầu mỗi người chịu trách nhiệm trả 1/2; bà không thừa nhận khoản nợ ông Tư và anh Thông do ông Xứng nại ra.

Với nội dung trên;

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 68/2010/HNGĐ-ST ngày 29-6-2010, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang quyết định:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Xứng được ly hôn bà Liên, về con chung: Ông Xứng, bà Liên cỏ 6 con chung tên Lê Thị Nga, sinh năm 1975; Lê Thị Bích Hằng, sinh năm 1978; Lê Thị Lành, sinh năm 1981; Lê Văn Thông, sinh năm 1981; Lê Thanh Phú, sinh năm 1984; Lê Thị Ngọc Thích Kim Duyên sinh năm 1992, các con chung đều đã trưởng thành.

Về tài sản và nợ chung:

+ Tài sản chung:

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Xứng và bà Liên sang tên chuyển quyền thửa đất sổ 1939 diện tích 2.100m2 đất vườn tọa lạc tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang do ông Xứng đứng tên quyền sử dụng được cấp chung trong GCNQSD cấp ngày 22-4-2000 cho chị Lê Bích Nga khỉ án có hiệu lực pháp luật.

Chia cho ông Xứng thửa đất ruộng sổ 674 diện tích 6.500m tọa lạc tại xã Thạnh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, được cấp chung trong GCNQSD đất do ông Xứng đứng tên cấp ngày 26-01-1994; thửa đất vườn so 1929 diện tích 4.48lm2 tọa lạc ấp Mỹ Phủ, xã Thiện Trị huyện cái Bè, tỉnh Tiền Giang được cấp chung trong GCNQSD đất do ông Xứng đứng tên, cấp ngày 22-4-2000 và một xuồng trọng tải 30 giạ.

Chia cho bà Liên toàn bộ đất và tài sản còn lại. Gồm: hai thửa đất sổ 75 diện tích 1.08ỉm2, thửa 150 diện tích Ỉ4.362m2 tọa lạc tại xã Thạnh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, được cấp chung trong GCNQSD đất do ông Xứng đứng tên cấp ngày 26-01-1994, các thửa đất sổ 1932 diện tích 2.460m2, thửa 1934 diện tích 1.162m2, thửa 2032 diện tích 5.800m2 tọa lạc tại ấp Mỹ Phủ, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, được cấp chung trong GCNQSD đất do ông Xứng đứng tên cấp ngày 22-4-2000 và nhà (chính, phụ), hồ nước, chuồng heo, vật dụng sinh hoạt (trừ 1 xuồng trọng tải 30 giạ chia cho ông Xứng).

Các đương sự đến cơ quan thẩm quyền lập thủ tục sang tên, chuyển quyền đất theo quy định của pháp luật.

+ Về nợ:

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cái Bè (Phòng giao dịch Hòa Khánh). Buộc ông Xứng phải trả 5.000.000đ vốn vay và lãi suất tương ứng; bà Liên phải trả 10.000.000d vốn vay và lãi suất tương ứng theo Hợp đồng tín dụng số 6902 ngày 04-11-2009. Ông Xứng, bà Liên thực hiện việc trả nợ ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Vãn Tư đòi ông Xứng và bà Liên phải trả 08 chỉ vàng 24k. Buộc ông Xứng trả cho ông Tư 8 chỉ vàng 24kr (do ông Xứng thừa nhận nợ) làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn Thông đòi ông Xứng và bà Liên phải hoàn trả 18 triệu chi phí lên ruộng thành vườn, 656.750.000đ cải tạo vườn trồng cây, 5 triệu lắp đặt ong nước. Cộng chung;679.750.000đ.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Thông đòi bà Liên có trách nhiệm củng ông Xứng trả cho anh 5 chỉ vàng 24k. Buộc ông Xứng trả cho anh Thông 5 chỉ vàng 24k (do ông Xứng thừa nhận nợ) làm một lần ngay khi án cỏ hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử SWO thẩm, ngày 12-7-2010, ông Lê Văn Xứng có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thấm.

Ngày 13-8-2010, ông Lê Văn Tư có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Ngày 13-7-2010, anh Lê Văn Thông có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 29/2011/HN-PT ngày 08-4-2011, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cảo của ông Lê Văn Xứng, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn Tư, sửa một phân bản án hôn nhân sơ thẩm sổ 68/2010 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.

Chấp nhận một phần yêu cầu khảng cảo của anh Lê Vãn Thông.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Xứng. Ông Xứng được ly hôn với bà Liên.

- Về con chung: Ông Xứng và bà Liên có 06 người con chung, các con chung đều trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung:

+ Tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bích Nga. Khi án có hiệu lực pháp luật, ông Xứng và bà Liên có nghĩa vụ sang tên quyền sử dụng thửa đất số 1939 diện tích 2.100m2 đất vườn tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cải Bè, tỉnh Tiền Giang cho chị Nga.

Chia cho ông Xứng diện tích đất 301,2m2 tại thửa 75, diện tích 3.385m2 + 24,14m2 (2m XX 12,7m) diện tích đất 6.638m2 tại thửa 674, tổng diện tích đất của 3 thửa là 10.348,34m2 (có nêu tứ cận) tại xã Thạnh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp (GCNQSD đất sổ 01948 UBND huyện Tháp Mười cấp ngày 26-01-1994 do ông Xứng đứng tên).

Chia cho bà Liên diện tích đất 8.612,86m2 thuộc 02 thửa: 105 và 75 (có nêu tử cận) tại xã Thạnh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp (GCNQSD đất đứng tên ông Xứng).

Chia cho ông Xứng diện tích đất l.OOOnỉ thuộc thửa số 1932, diện tích đất 4.293,4m2 thuộc thửa sổ 1929 (có nêu tứ cận) tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (GCNQSD đất sổ 1206 do UBND huyện Cái Bè cấp ngày 22-4-2000 đứng tên ông Xứng).

Chia cho ông Xứng diện tích đất 470,4m2 và toàn bộ cây trồng trên đất thuộc thửa 1934 (cỏ nêu tứ cận).

Chia cho bà Liên diện tích đất 1068,4m thuộc thửa 1932, diện tích đất lOOOnỉ và cây trồng trên đất thuộc thửa 1929 (có nêu tứ cận).

Chìa cho bà Liên diện tích đất 470,4m2 và toàn bộ cây trồng trên đất thuộc thửa 1934 (có nêu tứ cận).

Chia cho bà Liên diện tích đất 5.800m2 và toàn bộ cây trồng trên đất thuộc thửa 2032 (không nêu tứ cận), GCNQSD đất số 1206 do UBND huyện Cái Bè cấp ngày 22-4-2000 đứng tên ông Xứng.

Chia cho ông Xứng 01 tủ áo có kiếng, 01 giường ngủ, 01 bộ ngựa gõ và V2 giá trị nhà và vật dụng sinh hoạt là 17.064.668đ.

Bà Liên được sở hữu căn nhà chỉnh (cột kèo đòn tay gỗ tạp, vách ván, mái tole, nền đất, tỷ lệ còn lại là 30%, diện tích 57,66m); nhà phụ (cột kèo đòn tay gỗ, tạp, vách ván, mái lá, tỷ lệ còn lại là 30%); nhà tắm (tỷ lệ còn lại là 70%); hồ nước, chuồng heo (cất trên thửa đất 1932 đã chìa cho bà Liên) và vật dụng sinh hoạt (01 máy hiệu D10, 01 mảy xăng hiệu Honda, 01 mảy xăng hiệu Mỉsshumỉshi, 01 thùng suốt lúa loại nhỏ, 01 dàn trụt, 01 ngựa gõ, 02 tủ áo có kiếng, 01 tủ ly bằng cây, 01 tủ cây để tivi, 01 bàn chữ u bằng cây, 02 bàn tròn cây tạp, 16 ghế bằng cây tạp, 01 giường ngủ bằng cây tạp, 01 tivi hiệu Sonny, 01 đầu máy hiệu Dalin, 01 amply + thủng Pax, 01 xuồng 30 giạ, 01 ghe đã cũ, 01 máy xịt thuốc lúa, 01 máy phát cỏ). Khi án có hiệu lực pháp luật bà Liên phải có trách nhiệm giao lại cho ông Xứng V2 giá trị tài sản với sổ tiền là 17.064.668đ và giao lại cho ông Xúng 01 giường ngủ, 01 bộ ngựa gõ, 01 tủ ảo có kiếng.

+ Về nợ chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cái Bè.

Ông Xứng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát trỉên nông thôn huyện Cái Bè số tiền vốn là 5.000. OOOđ và lãi suất tương ủng, bà Liên có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triên nông thôn huyện Cái Bè số tiền vốn là lO.OOO.OOOđ và lãi suất tương ứng theo hợp đồng tín dụng ngày 04-11-2009. Ông Xứng và bà Liên thực hiện việc trả nợ ngay khi án có hiệu lực để Ngân hàng giải chấp tài sản (GCNQSD đât sô 12206 cấp ngày 22-4-2000 do ông Xứng đứng tên).

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Tư. Khỉ án có hiệu lực pháp luật, ông Xứng trả cho ông Tư 4 chỉ vàng 24k, bà Liên trả cho ông Tư 4 chỉ vàng 24k.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Thông. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Xứng trả cho ông Thông 40.000. OOOđ (giá trị cây, tiên lên liếp) khi án cỏ hiệu lực.

Ngoài ra, Tòa án còn quyết định về án phí và nghĩa vụ thi hành án.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Hồ Bích Liên có đơn đề nghị xem xét lại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 597/2013/KN-DS ngày 27-12-2013 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 29/HN-PT ngày 08-4-2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; với nhận định:

- Tại Biên bản giải quyết việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng ngày 19-10-2009 thì chính quyền địa phương xác định ông Xứng bỏ nhà đi từ năm 1994, chung sống và có con với người phụ nữ khác là bà Trương Thị Nhã ở Kiên Giang, còn bà Liên phải nuôi con chung và có công sức tôn tạo đất và canh tác ruộng vườn. Do đó cần phải làm rõ công sức đóng góp của ông Xứng và bà Liên trong việc tạo lập và duy trì khối tài sản chung, đồng thòi làm rõ trong thời gian ông Xứng bỏ đi thì bà Liên có sửa chữa nhà và mua sắm một số tài sản khác hay không, trên cơ sở đó mới giải quyết vụ án. Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập chứng cứ làm rõ các vấn đề trên nhưng lại xác định toàn bộ tài sản trên là tài sản chung, từ đó chia cho ông Xứng và bà Liên mỗi người được hưởng 1/2 giá trị căn nhà là chưa đủ căn cứ, không phù hợp với thực tế.

- Không có căn cứ xác định khoản nợ của cụ Tư là nợ chung của ông Xứng và bà Liên, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Liên có trách nhiệm cùng ông Xứng trả cho cụ Tư 08 chỉ vàng là không có căn cứ.

- Ông Xứng thừa nhận ông và bà Liên có vay của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang 15.000.000 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Liên trả 10.000.000 đồng, ông Xứng trả 5.000.000 đồng trong số nợ nêu trên là không đúng.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với nội dung kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy rằng: về quan hệ hôn nhân và con cái thì ông Xứng và bà Liên thống nhất, hai bên không ai có khiếu nại gì nên tại phiên tòa giám đốc thẩm không xem xét.

Về tài sản: ông Xứng và bà Liên đều có lời khai thống nhất là trong thời kỳ sống chung hai người cùng tạo lập được khối tài sản bao gồm: 21.943m2 đất tại xã Thạnh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp (đo đạc thực tế là 18.961.9m2), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Xứng cấp ngày 26-01-1994; 16.003m2 đất tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (đo đạc thực tế là 13.903m2), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Xứng cấp ngày 22-4-2000; căn nhà và công trình phụ cất trên thửa đất 1932 tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, Tiền Giang; cây trồng các loại và các vật dụng sinh hoạt khác.

Riêng đối với thửa đất số 1939 diện tích 2.100m2 tại ấp Mỹ Phú, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, do ông Xứng và bà Liên đã đồng ý chuyển quyền sử dụng cho con gái là chị Nguyễn Thị Nga nên thửa đất này chị Nga có quyền sử dụng mà không phải là tài sản sản của ông Xứng, bà Liên.

Thực tế từ năm 1994 đến nay ông Xứng sống chung với người phụ nữ khác như vợ chồng tại Kiên Giang; còn bà Liên phải nuôi con chung và có công sức tôn tạo đất và canh tác ruộng vườn.

Tại Biên bản giải quyết việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng ngày 19-10-2009 thì chính quyền địa phương xác định ông Xứng bỏ nhà đi từ năm 1994, chung sống và có con với người phụ nữ khác là bà Trương Thị Nhã ở Kiên Giang.

Tại xác nhận đề ngày 21-4-2010, trưởng ấp xác nhận ông Xứng không ở địa phương từ năm 1994, đến năm 2009 mới về. Nhưng ông Xứng chỉ về nhập hộ khẩu để lo cưới vợ cho con, còn thực tế vẫn sống ở Kiên Giang.

Lẽ ra, khi giải quyết vụ án Tòa án phải tiến hành xác minh làm rõ công sức đóng góp của ông Xứng và bà Liên trong việc tạo lập và duy trì khối tài sản chung, đồng thời làm rõ trong thời gian ông Xứng bỏ đi thì bà Liên có sửa chữa nhà và mua sắm một số tài sản khác hay không, trên cơ sở đó mới giải quyết vụ án. Tòa án cấp phúc thấm chưa thu thập chứng cứ làm rõ các vấn đề trên nhưng lại xác định toàn bộ tài sản trên là tài sản chung, từ đó chia cho ông Xứng và bà Liên mỗi người được hưởng 1/2 giá trị căn nhà là chưa đủ căn cứ, không phù hợp với thực tế.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Xứng cho rằng năm 2005 ông và bà Liên vay của cụ Tư 08 chỉ vàng để cưới vợ cho con là anh Lê Văn Thông. Tuy nhiên, ông Xứng và cụ Tư không xuất trình được chứng cứ chứng minh, trong khi đó bà Liên không thừa nhận có khoản nợ này. Do đó, không có căn cứ xác định khoản nợ của cụ Tư là nợ chung của ông Xứng và bà Liên nhưng Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Liên có trách nhiệm cùng ông Xứng trả cho cụ Tư 08 chỉ vàng là không có căn cử.

Ngoài ra, ông Xứng thừa nhận ông và bà Liên có vay của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

15.000.000 đồng để chi phía cưới vợ cho anh Lê Văn Phú. Đáng lẽ ra, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm phải buộc ông Xứng và bà Liên mỗi người chịu trách nhiệm trả Ngân hàng 1/2 số nợ này mới đúng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Liên trả 10.000.000 đồng, ông Xứng trả 5.000.000 đồng trong số nợ nêu trên là không đúng.

Vì vậy, kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy phần chia tài sản chung của bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm lại là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

Hủy phần chia tài sản chung của bản án phúc thẩm số 29/2011/HN-PT ngày 08-4-2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang và hủy phần chia tài sản chung của bản án sơ thẩm số 68/2010/HNGĐ-ST ngày 29/06/2010 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang về vụ án “Xin ly hôn” giữa nguyên đơn là ông Lê Văn Xứng với bị đơn là bà Hồ Thị Bích Liên và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ông Lê Văn Tư, Anh LêVăn Thông, Chị Lê Thị Bích Nga, Anh Nguyễn Văn Bình, Chị Lê Thị Bích Hằng, Chị Lê Thị Lành, Anh Lê Văn Phú, Bà Lê Thị Ngọc Thích Kim Duyên và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.


77
Văn bản được dẫn chiếu
     
    Văn bản được căn cứ
    Bản án/Quyết định đang xem

    Quyết định giám đốc thẩm 106/2014/DS-GĐT ngày 20/03/2014 về vụ án xin ly hôn

    Số hiệu:106/2014/DS-GĐT
    Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:20/03/2014
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về