Quyết định 04/2004/HĐTP-DS ngày 25/02/2004 về vụ án đòi nợ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH 04/2004/HĐTP-DS NGÀY 25/02/2004 VỀ VỤ ÁN ĐÒI NỢ 

Tại phiên toà ngày 25-02-2004 xét xử giám đốc thẩm vụ án đòi nợ giữa các đương sự:

Nguyên đơnChị Nguyên Thị Toại; trú tại: Thôn Xuân Mỹ, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Bị đơnChị Lý Thị Mai; trú tại: Thôn Bả Canh, xã Đập Đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

NHẬN THẤY

Tháng 04 năm 1996 chị Toại cho chị Mai vay 70.000.000 đồng, lãi 3%/tháng. Chị Mai đã trả lãi cho chị Toại đến tháng 3 năm 1998 thì ngừng. Nay chị Toại yêu cầu chị Mai phải trả 70.000.000 đồng cùng lãi suất quá hạn theo qui định.

Theo chị Mai thì số tiền 70.000.000 đồng chị vay của chị Toại có nguồn gốc từ 4 chân huê, chị Toại hốt cho chị vay lại từ tháng 4 năm 1996 với lãi suất là 3%/tháng, chị đã trả lãi đến tháng 3 năm 1998 với tổng số tiền là  100.800.000đồng. Nay chị cho rằng chị đã trả đủ cho chị Mai nên không còn nợ nữa.

Tại Bản án sơ thẩm số 08/DSST ngày 26-07-2000 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định: Buộc chị Mai phải trả cho chị Toại 70.000.000 đồng tiền gốc và 20.236.995 đồng tiền lãi.

Ngày 28-07-2000 chị Mai có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại Bản án phúc thẩm số 59/2000/PTDS ngày 21-12-2000 Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã quyết định: Y án sơ thẩm.

Ngày 20-04-2001 chị Mai có đơn khiếu nại với nội dung: Toà án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt chị là không đúng vì khi nhận được giấy triệu tập chị đều có đơn xin vắng mặt với lý do chính đáng;

Số tiền 70.000.000 đồng là khoản nợ của 4 chân huê, khi vỡ huê chị Toại buộc chị phải viết giấy, nay chị đã trả hết nợ gốc. Mặt khác, nếu theo nhận định của án sơ thẩm thì ít nhất chị cũng trả được 30.500.000 đồng;

- Tính lãi không theo qui định của Bộ luật Dân sựThông tư liên tịch số 01 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính.

Tại Quyết định số 51/KNDS ngày 07-08-2003, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên với nhận định: Về số tiền 70.000.000 đồng: Hai bên thống nhất chị Mai đã trả lãi cho chị Toại 3%/tháng (2.100.000 đồng/tháng) từ tháng 04-1996 đến tháng 03- 1998, từ tháng 04-1998 thì chị Mai ngưng không trả lãi. Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm đã quyết định buộc chị Mai phải trả cho chị Toại số tiền gốc 70.000.000 đồng và số tiền lãi được tính theo từng thời điểm từ tháng 04- 1998 đến tháng 07-2000, nhưng theo qui định tại Điều 313 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự và theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-06-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản thì đối với các hợp đồng vay tài sản giao kết từ ngày 01-07-1996 trở đi thì việc tính lãi phải tuân theo các qui định của Bộ luật Dân sự, số tiền 1ãi đã trả cũng phải được giải quyết lại, nếu mức lãi suất mà các bên thoả thuận cao hơn mức 1ãi suất được qui định tại khoản 1 Điều 473 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, các cấpToà án tính lãi suất theo từng thời điểm và không tính lại số tiền lãi mà chị Mai đã trả cho chị Toại cao hơn qui định từ tháng 07-1996 đến tháng03-1998 là chưa chính xác.

Tại  Kết luận số 11/VKSTC-V5 ngày 26-11-2003Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân tối cao huỷ các Bản án sơ thẩm, phúc thẩm; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung.

XÉT THẤY

Tháng 04-1996 chị Mai nợ chị Toại 70.000.000 đồng. Đến tháng 09-1998 thì chị Mai có xác nhận (trong sổ của chị Toại;):

Mai vay chị Bảy (Toại) 70.000.000 (năm 1996-1997)

Hụi còn lại: 21.500.000 đồng

Mai trả: 30.500.000 đồng

Còn: 61.000.000 đồng

Về số tiền 70.000.000 đồng: chị Mai cho rằng đó 1à số tiền do chơi huê mà có, nhưng chị Mai không có chứng cứ để chứng minh. Vì vậy, các cấp Toà án xác định chị Mai nợ chị Toại 70.000.000 1à có căn cứ.

Về lãi suất: Hai bên thống nhất chị Mai đã trả lãi cho chị Toại 3%/tháng (2.100.000 đồng/tháng) từ tháng 04-1996 đến tháng 03-1998. Như vậy, theo qui định của Bộ luật Dân sự và Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-06-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản thì: ''Đối với các hợp đồng vay tài sản giao kết trước ngày 01-07-1996 thì chỉ tính số tiền lãi chưa trả theo qui định của Bộ luật Dân sự; đối với các khoản tiền lãi đã trả thì không phải giải quyết lại. Đối với các hợp đồng vay tài sản giao kết từ ngày 01-07-1996 trở đi thì việc tính lãi phải tuân theo các qui định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi đã trả cũng phải được giải quyết lại, nếu mức lãi suất mà các bên thoả thuận cao hơn mức lãi suất được qui định tại khoản 1 Điều 473 Bộ luật Dân sự. Trong vụ án này, số tiền lãi chị Mai đã trả cho chị Toại từ tháng 04-1996 đến hết tháng 06-1996 tuy có cao hơn qui định nhưng cũng không phải giải quyết lại mà chỉ giải quyết lại số tiền 1ãi chị Mai đã trả cho chị Toại trong thời gian từ tháng 07-1996 đến tháng 03-1998. Kể từ khi hết hạn phải trả mà chị Mai vẫn còn nợ thì ngoài việc phải trả số tiền gốc, cần buộc chị Mai phải trả khoản tiền lãi theo qui định tại khoản 5 Điều 471 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, việc Toà án cấp phúc thẩm tính lãi theo lãi suất từng thời điểm và không tính lại số tiền lãi mà chị Mai đã trả cho chị Toại cao hơn qui định từ tháng 07-1996 đến tháng 03-1998 là chưa chính xác.

Ngoài ra, tại giấy xác nhận nợ còn thể hiện chị Mai đã trả cho chị Toại 30.500.000 đồng. Theo chị Toại thì số tiền 30.500.000 đồng chị chưa yêu cầu giải quyết vì đây là số tiền do huê hụi mà có và là khoản chấp nhận cho chị Mai thanh toán trước, chị Mai phải đóng cho chị 2.000.000 đồng 1 tháng (từ tháng 09 năm 1998) nhưng chị Mai không thực hiện. Tuy nhiên, theo chị Mai thì chị đã trả hết cho chị Toại cả gốc và lãi, hoặc nếu theo nhận định của bản án sơ thẩm thì ít nhất chị cũng đã trả được cho chị Toại 30.500.000 đồng. Như vậy, số tiền này có phải là tiền hụi hay tiền chị Toại chấp nhận cho chị Mai thanh toán trước hay là tiền chị Mai đã trả cho chị Toại cũng chưa được các cấp Toà án điều tra làm rõ.

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 4 Điều 77 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

Huỷ Bản án dân sự phúc thẩm số 59/DSPT ngày 21-12-2000 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng. Giao hồ sơ vụ án cho Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng qui định của pháp luật. 

Lý do huỷ Bản án phúc thẩm:

Toà án cấp phúc thẩm đã tính lãi suất không chính xác. Về khoản tiền hai bên đã thanh toán cho nhau, Toà án chưa làm rõ đó là tiền hụi hay tiền thanh toán trước.


131
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về