Bản án về xin ly hôn và tranh chấp nuôi con số 04/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 04/2024/HNGĐ-ST NGÀY 21/02/2024 VỀ XIN LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 136/2023/TB-TLVA ngày 05 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/02/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm 1985 (Có mặt) Nơi cư trú: thôn TM, xã C, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh

- Bị đơn: Dương Văn T, sinh năm 1981 Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn TM, xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ở hiện nay: Ấp 3, xã TH, huyện B, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của chị Lê Thị M và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, vụ án có nội dung: Chị Lê Thị M và anh Dương Văn T đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 03/02/2009, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống ở thôn TM, xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, tình cảm vợ chồng hoà thuận được 3 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Mận yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Dương Văn T.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là:

Dương Văn Nh, sinh ngày 16/11/2009. Chị Mận có nguyện vọng nhường con cho anh Tân trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục con đến tuổi trưởng thành và không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn anh Dương Văn T: Do hiện nay anh Dương Văn T đang làm việc tại tỉnh Bình Dương vì lý do công việc nên không thể trực tiếp đến tại Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập nên anh Tân gửi bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt trình bày ý kiến của mình về việc ly hôn với chị Lê Thị M như sau: Anh Dương Văn T thống nhất như chị Lê Thị M trình bày, vợ chồng có đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc vợ chồng sống ly thân từ năm 2012 đến nay, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Lê Thị M làm đơn xin ly hôn thì anh Tân đồng ý. Về con chung: Trong quá trình chung sống có 01 con chung là: Dương Văn Nh, sinh ngày 16/11/2009, anh Tân có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu chị Lê Thị M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung; vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa: Về việc tuân theo tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tại phiên tòa các thành viên Hội đồng xét xử có mặt đầy đủ, không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng; Quá trình xét xử đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng; Tòa án đã tiến hành tống đạt, thu thập tài liệu, chứng cứ đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là đảm bảo theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có tại vụ án, nhận thấy mâu thuẫn giữa chị Lê Thị M và anh Dương Văn T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử cho chị Lê Thị M được ly hôn với anh Dương Văn T; Về con chung: Giao cho anh Dương Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Dương Văn Nh, sinh ngày 16/11/2009 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị Mận không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về thẩm quyền: Chị Lê Thị M khởi kiện xin ly hôn với anh Dương Văn T, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Dương Văn T có nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn TM, xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa của chị Lê Thị M và anh Dương Văn T đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 03/02/2009 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị Mận vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng sống ly thân từ năm 2012 đến nay nhưng không ai có biện pháp hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Mận có nguyện vọng được ly hôn, giải phóng cho hai người để mỗi người có cuộc sống riêng, tốt đẹp hơn.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Dương Văn T cũng thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Mận kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau… nhưng hôn nhân giữa chị Lê Thị M và anh Dương Văn T không đạt được mục đích đó, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị M, xử cho chị Lê Thị M được ly hôn với anh Dương Văn T.

[2.2] Về con chung: Chị Lê Thị M và anh Dương Văn T có 01 con chung là Dương Văn Nh, sinh ngày 16/11/2009. Nguyện vọng của chị Lê Thị M sau khi ly hôn muốn được nhường quyền nuôi con cho anh Dương Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Anh Tân cũng đồng ý nuôi con và không yêu cầu chị Mận phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, hiện nay cháu Nhật đang sinh sống ổn định cùng với bố và ông bà nội; con Dương Văn Nh đã trên 07 tuổi và có đơn nguyện vọng mong muốn được ở với bố. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Dương Văn Nh cho anh Dương Văn T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành, chị Mận không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăn nom con chung, không ai được ngăn cản.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.

[4] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị M.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị M được ly hôn với anh Dương Văn T.

- Về con chung: Xử giao con Dương Văn Nh, sinh ngày 16/11/2009 cho anh Dương Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lê Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

2. Về án phí: Buộc chị Lê Thị M phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên theo biên lai thu tiền số 0009148 ngày 05/12/2023 Tiền án phí ly hôn sơ thẩm chị Lê Thị M đã nộp đủ.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

127
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về xin ly hôn và tranh chấp nuôi con số 04/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:04/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về