TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
BẢN ÁN 01/2024/HNGĐ-ST NGÀY 23/01/2024 VỀ XIN LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 130/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024 ngày 08 tháng 01 năm 2024 , giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Ngọc P, sinh năm 1993 Trú tại: Tổ 13, ấp 4, xã T, huyện Bàu B, tỉnh Bình Dương
- Bị đơn: Anh Văn Ngọc L, sinh năm 1988 Trú tại: Thôn 1, xã Cẩm M, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.
(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của chị Lưu Thị Ngọc P và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, vụ án có nội dung: Chị Lưu Thị Ngọc P và anh Văn Ngọc L đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm M, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh ngày 11/3/2020, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Chị và anh L sống ly thân từ tháng 04/2022 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Văn Ngọc L.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Văn Ngọc H, sinh ngày 28/9/2020. Nguyện vọng của chị Lưu Thị Ngọc P sau khi ly hôn muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Văn Ngọc L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết Ngoài ra, chị Lưu Thị Ngọc P còn đề nghị Tòa án không tiến hành phiên họp tiếp cận, công khai, giao nộp, kiểm tra chứng cứ, hòa giải và các buổi làm việc khác; đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị và giải quyết trong thời gian sớm nhất để chị và anh L sớm ổn định cuộc sống.
Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn anh Văn Ngọc L trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất như trình bày của chị Lưu Thị Ngọc P về thời điểm đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng ly thân từ tháng 04/2022 đến nay, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm. Nay chị P kiên quyết ly hôn thì anh cũng nhất trí; Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Văn Ngọc H, sinh ngày 28/9/2020. Anh đồng ý nhường cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành, anh không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình chung sống anh và chị Lưu Thị Ngọc P không tạo lập được tài sản gì chung; vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa các thành viên Hội đồng xét xử có mặt đầy đủ, không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng; Quá trình xét xử đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng; Tòa án đã tiến hành tống đạt, thu thập tài liệu, chứng cứ đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt các đương sự là đảm bảo theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử cho chị Lưu Thị Ngọc P được ly hôn với anh Văn Ngọc L; Về con chung: Giao cho chị Lưu Thị Ngọc P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Văn Ngọc H, sinh ngày 28/9/2020 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), anh Văn Ngọc L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét;
Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thẩm quyền: Chị Lưu Thị Ngọc P khởi kiện xin ly hôn với anh Văn Ngọc L, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Văn Ngọc L có nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn 1, xã Cẩm M, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị vắng mặt tại các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và đề nghị xét xử vắng mặt; Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử bị đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lưu Thị Ngọc P và anh Văn Ngọc L đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Minh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị P nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm. Từ năm 2022 đến nay vợ chồng sống ly thân, không liên lạc với nhau, hai vợ chồng không tìm cách hàn gắn tình cảm. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị có nguyện vọng được ly hôn, giải phóng cho hai người để mỗi người có cuộc sống riêng, tốt đẹp hơn.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Văn Ngọc L cũng cho rằng vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, không liên lạc gì với nhau, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị P.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau… nhưng hôn nhân giữa chị Lưu Thị Ngọc P và anh Văn Ngọc L không đạt được mục đích đó, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thị Ngọc P được ly hôn với anh Văn Ngọc L.
[2.2] Về con chung: Chị Lưu Thị Ngọc P và anh Văn Ngọc L có một con chung là Văn Ngọc H, sinh ngày 28/9/2020. Nguyện vọng của chị P sau khi ly hôn muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh L đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Anh Văn Ngọc L đồng ý nhường quyền nuôi con cho chị P. Mặt khác, từ năm 2022 đến nay chị P là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, con đang còn nhỏ cần sự chăm nóc của người mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con Văn Ngọc H cho chị Lưu Thị Ngọc P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh Văn Ngọc L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
[4] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lưu Thị Ngọc P, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Ngọc P được ly hôn với anh Văn Ngọc L.
- Về con chung: Giao con Văn Ngọc H, sinh ngày 28/9/2020 cho chị Lưu Thị Ngọc P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Văn Ngọc L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
2. Về án phí: Buộc chị Lưu Thị Ngọc P phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tiền số 0012328 ngày 23/5/2023. Tiền án phí ly hôn sơ thẩm chị Lưu Thị Ngọc P đã nộp đủ.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Bản án về xin ly hôn và tranh chấp nuôi con số 01/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 01/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 23/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về