TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 96/2024/HNGĐ-ST NGÀY 03/07/2024 VỀ XIN LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 689/2023/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 25/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc H, sinh năm 1992 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh A.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990 (Vắng mặt). Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện H, tỉnh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc H trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc H và anh Nguyễn Văn M tự tìm hiểu yêu thương nhau, sau đó được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới theo phong tục vào năm 2014, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Lạc Quới, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 17/02/2016. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì xảy ra mâu thuẫn do tính cách không hợp, hay bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được. Do đó, chị Nguyễn Thị Trúc H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Trúc H và anh Nguyễn Văn M có 01 người con chung tên Nguyễn Vĩnh K, sinh ngày 13/10/2014, hiện nay đang ở cùng chị H. Ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Trúc H xác định chị và anh M không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Trúc H xác định chị và anh M không có nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định cho anh Nguyễn Văn M nhưng anh M vẫn vắng mặt, do đó không có lời khai của anh Nguyễn Văn M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định vụ án này như sau:
[1] Về thẩm quyền: Theo nội dung đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Trúc H thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Thuận Hòa, xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất nên quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Trúc H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai những vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc H và anh Nguyễn Văn M là vợ chồng hợp pháp do đã được UBND xã Lạc Quới, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 17/02/2016. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của chị H và anh M mà chị H đã giao nộp tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Thị Trúc H và anh Nguyễn Văn M phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp, hay bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Hiện nay chị H và anh M đã sống ly thân với nhau, mỗi người có cuộc sống riêng và không quan tâm hay hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh M để tham gia các buổi làm việc, hòa giải, phiên tòa nhưng anh M đều vắng mặt không có lý do và không có lời khai của anh M. Điều đó chứng tỏ anh M không có thiện chí làm việc, gặp gỡ nguyên đơn, không có giải pháp hợp lý nhằm khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ; trong khi đó chị H xác định không còn tình cảm, không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với anh M và kiên quyết xin ly hôn. Vì vậy, đủ cơ sở khẳng định tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị H ly hôn anh M theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.
[3.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Trúc H và anh Nguyễn Văn M có 01 người con chung tên Nguyễn Vĩnh K, sinh ngày 13/10/2014, hiện đang ở cùng chị H. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử thấy rằng cháu K từ trước đến nay đều sống với chị H, do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi chị và anh M sống ly thân với nhau. Đồng thời, trong thời gian sống ly thân anh M cũng không hỏi han, quan tâm, chăm sóc hay gửi tiền phụ giúp chị H nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Trúc H là phù hợp.
[3.3] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Trúc H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
[3.4] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Trúc H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
[3.5] Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị Trúc H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ:
QUYẾT ĐỊNH
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 277, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Tuyên Xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Trúc H ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
2.Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Trúc H được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Vĩnh K, sinh ngày 13/10/2014 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Nguyễn Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn M có quyền được thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Trúc H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Trúc H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Trúc H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004075 ngày 11/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó chị Nguyễn Thị Trúc H không phải nộp thêm.
6. Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về xin ly hôn và nuôi con chung số 96/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 96/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hòn Đất - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 03/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về