Bản án về xin ly hôn và nuôi con chung số 16/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 16/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ XIN LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện S xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 15 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Hoài Th, sinh năm 1989;

* Vắng mặt có lý do (Có đơn xin giải quyết vắng mặt ).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1986;

* Vắng mặt không có lý do lần thứ 2.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Trung Hạ, thị trấn Trung Phước, huyện S, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/5/2024 và bản tự khai của nguyên đơn, chị Trương Thị Hoài Th trình bày: Chị Trương Thị Hoài Th và anh Nguyễn Văn V là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Quế Trung cũ (nay là thị trấn Trung Phước), huyện S vào ngày 14/3/2013. Trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh V có nhiều lời lẽ xúc phạm chị Th, vợ chồng thường xuyên cải vả khiến cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Nay chị Th thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.

Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Trương Bảo N, sinh ngày 23/01/2014 và Nguyễn Trương Bảo H, sinh năm 04/04/2017. Khi ly hôn chị Th có nguyện vọng nuôi cả hai con và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu mỗi tháng một triệu đồng.

Về tài sản chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.

Về nợ chung: Chị Th khai vợ chồng chị không có nợ chung.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn V: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh V không hợp tác, cố tình trốn tránh và không hợp tác làm việc với Tòa án; không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mặc dù đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án huyện S theo quy định của pháp luật. Anh V cũng không có ý kiến về nội dung vụ án cũng như yêu cầu của mình; từ chối quyền lợi, nghĩa vụ về việc giải quyết vụ án và tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn V có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Trung Hạ, huyện S, tỉnh Q; chị Th yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật giải quyết là tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện S theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình trốn tránh, không hợp tác để giải quyết vụ án, cả hai phiên Tòa anh V đều vắng mặt không có lý do; phía chị Trương Thị Hoài Th đã có đơn xin vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

2. Về nội dung vụ án: - Quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Hoài Th và anh Nguyễn Văn V là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Quế Trung cũ (nay là thị trấn Trung Phước), huyện S vào ngày 14/3/2013. Trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh V có nhiều lời lẽ xúc phạm chị Th, vợ chồng thường xuyên cãi vả khiến cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Nay chị Th thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.

Chị Trương Thị Hoài Th có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh V không đến Tòa do đó không tiến hành hòa giải đoàn tụ được. Chị Trương Thị Hoài Th kiên quyết xin ly hôn và có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Th và anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Trương Bảo N, sinh ngày 23/01/2014 và Nguyễn Trương Bảo H, sinh năm 04/04/2017. Khi ly hôn chị Th có nguyện vọng nuôi cả hai con và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu mỗi tháng một triệu đồng. Hiện cháu N và cháu H đang ở cùng chị Th và hai cháu cũng đã có đơn trình bày xin được ở với mẹ nên xét thấy cần giao cháu N và cháu H cho chị Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và đảm bảo sự phát triển và quyền lợi của cháu là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, chấp nhận yêu cầu của chị Th, buộc anh Nguyễn Văn V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu mỗi tháng 1.000.000 đồng để nuôi con chung cho đến khi cháu N và cháu H đến tuổi trưởng thành.

Anh Nguyễn Văn V được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở phù hợp với Điều 82 và Điều 83 luật hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Hoài Th về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” với anh Nguyễn Văn V”.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị Hoài Th được ly hôn anh Nguyễn Văn V.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trương Bảo N, sinh ngày 23/01/2014 và Nguyễn Trương Bảo H, sinh năm 04/04/2017, cho chị Trương Thị Hoài Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn V phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu mỗi tháng 1.000.000đồng (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Trương Bảo N và Nguyễn Trương Bảo H thành niên(đủ 18 tuổi).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, anh Hứa Văn Quý còn phải chịu tiền lãi của số tiền cấp dưỡng chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thanh toán.

Anh Nguyễn Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Trương Thị Hoài Th phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Th đã nộp theo biên lai thu số 0020283 ngày 28/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện S.

Anh Nguyễn Văn V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bên đương sự có quyền làm đơn kháng cáo gởi lên Tòa án nhân dân tỉnh Q để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

125
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về xin ly hôn và nuôi con chung số 16/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:16/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nông Sơn - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về