TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 86/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ XIN LY HÔN
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2024/TLST- HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2024, về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 60/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trịnh Quang T, sinh năm 1989 (Có mặt) Nơi cư trú: ấp TB, xã TL, huyện CT, tỉnh KG
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1996 Nơi cư trú: ấp TH, xã TL, huyện CT, tỉnh KG (Chị P được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Nguyên đơn anh Trịnh Quang T trình bày: Vào năm 2018, anh và chị Nguyễn Thị Ngọc P quen nhau và có làm lễ cưới sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện CT, tỉnh KG. Thời gian đầu anh chị chung sống rất hòa thuận, hạnh phúc và có 01 người con chung Trịnh Phúc K, sinh ngày 04/11/2019 nhưng đến khoảng thời gian gần đây thì giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và anh chị đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng vẫn mâu thuẫn nhau. Anh và chị đã sống ly thân nhau đã hơn 03 năm nay. Nay anh cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh khởi kiện xin ly hôn.
Tại phiên tòa anh Trịnh Quang T có yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc P - Về việc nuôi con chung: Đồng ý giao người con chung tên Trịnh Phúc K, sinh ngày 04/11/2019 cho chị Nguyễn Thị Ngọc P chăm sóc nuôi dưỡng. Anh sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu K đến 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc P: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Ngọc P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác. Sau đó, Tòa án tiếp tục tống đạt cũng như niêm yết nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật nhưng chị Nguyễn Thị Ngọc P vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Quang T, cho anh Trịnh Quang T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc P.
- Về con chung: Ghi nhận ý kiến của anh Trịnh Quang T là giao 01 người con chung Trịnh Phúc K, sinh ngày 04/11/2019 cho chị Nguyễn Thị Ngọc P chăm sóc nuôi dưỡng. Anh sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu K đến 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Trịnh Quang T xác định là không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] - Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trịnh Quang T thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
[2] - Về quan hệ pháp luật tranh chấp, nguyên đơn anh Trịnh Quang T yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc P và thống nhất giao 01 người con chung Trịnh Phúc K, sinh ngày 04/11/2019 cho chị Nguyễn Thị Ngọc P chăm sóc nuôi dưỡng. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Xin ly hôn và nuôi con chung”.
[3] - Về sự có mặt của các đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc P đã được Tòa án triệu tập, tống đạt xét xử hợp lệ, đúng theo quy định pháp luật nhưng chị Nguyễn Thị Ngọc P vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Trịnh Quang T thống nhất yêu cầu xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Ngọc P. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc P theo quy định pháp luật.
[4] - Về nội dung: Anh Trịnh Quang T và chị Nguyễn Thị Ngọc P chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạnh Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Quang T yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc P, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Trịnh Quang T xác nhận, sau khi kết hôn thì giữa anh và chị Nguyễn Thị Ngọc P chung sống rất hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây thì giữa anh chị hay xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Đối với chị Nguyễn Thị Ngọc P mặc dù Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo hòa giải để mở phiên hòa giải nhằm mục đích động viên anh chị có cơ hội hàn gắn đoàn tụ nhưng chị Nguyễn Thị Ngọc P vẫn vắng mặt nhiều lần không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để chị Nguyễn Thị Ngọc P có mặt tham gia phiên tòa nhưng chị Nguyễn Thị Ngọc P vẫn vắng mặt. Tại phiên toà, anh Trịnh Quang T vẫn cương quyết xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc P và trên thực tế anh chị đã ly thân với nhau từ năm 2021 cho đến nay. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn về hôn nhân giữa anh Trịnh Quang T và chị Nguyễn Thị Ngọc P đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó, xét thấy việc anh Trịnh Quang T xin được ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Ngọc P là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trịnh Quang T đối với chị Nguyễn Thị Ngọc P.
[5] Về con chung: Anh Trịnh Quang T xác nhận trong quá trình chung sống anh chị có 01 người con chung Trịnh Phúc K, sinh ngày 04/11/2019, hiện đang sống cùng chị Nguyễn Thị Ngọc P. Anh có ý kiến là thống nhất tiếp tục giao cháu Trịnh Phúc K, sinh ngày 04/11/2019 cho chị Nguyễn Thị Ngọc P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. HĐXX nhận thấy việc tự nguyện của anh Trịnh Quang T là phù hợp với quy định và không trái với đạo đức xã hội nên ghi nhận để xem xét.
[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa anh Trịnh Quang T có nguyện vọng sẽ cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng cho cháu Trịnh Phúc K, sinh ngày 04/11/2019 đến 18 tuổi. Xét thấy việc tự nguyện này là phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận để xem xét.
Anh Trịnh Quang T có quyền thăm nom, chăm sóc các con mà không ai có quyền được cản trở.
[7] - Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập chị Nguyễn Thị Ngọc P đúng theo quy định pháp luật nhưng chị Nguyễn Thị Ngọc P vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất để xác định về tài sản chung cũng như nợ chung giữa anh chị được. Mặt khác, tại phiên toà anh Trịnh Quang T khẳng định anh chị không tạo lập được tài sản gì chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung và nợ chung HĐXX không xem xét nếu sau này anh chị hoặc cơ quan tổ chức, cá nhân nào khác có yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[8] - Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] - Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc anh Trịnh Quang T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí nhưng anh được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005475 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 53; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 107; Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn anh Trịnh Quang T đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc P 1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Trịnh Quang T được ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc P.
2. Về quan hệ con chung: Giao 01 người con chung giao cháu Trịnh Phúc K, sinh ngày 04/11/2019 cho chị Nguyễn Thị Ngọc P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng 3. Anh Trịnh Quang T có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng cho cháu Trịnh Phúc K, sinh ngày 04/11/2019 đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Anh Trịnh Quang T có quyền thăm nom chăm sóc con mà không ai có quyền được cản trở.
4. Về tài sản chung: Anh Trịnh Quang T xác định là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về nợ chung: Anh Trịnh Quang T xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
6. Về án phí: Buộc anh Trịnh Quang T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí nhưng anh được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005475 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng.
7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Bản án về xin ly hôn số 86/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 86/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 09/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về