Bản án về xin ly hôn số 45/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 45/2024/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2024 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 198/2024/TLST-HNGĐ ngày 8 ngày 8 ngày 2024 về xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tòng Thị Nh. Sinh năm 1985. NĐKHKTT: Bản C, xã Ch Mai, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hà Văn L, sinh năm 1984. NĐKHKTT: Bản C, xã C M, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Hiện đang đi chấp hành án tại trại giam Yên Hạ. có đơn xin được xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 8 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Tòng Thị Nh trình bày như sau:

Chị và anh Hà Văn L kết hôn với nhau từ năm 2003 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Ch, M, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La vào ngày 29/10/2003 và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống cũng không được hòa thuận hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, hay đánh đập nhau, anh L nghiện ma túy không tu trí làm ăn. Năm 2011 anh L cũng đã phải đi cai nghiện bắt buộc tại trại giam 03 xã Cò Nòi, chấp hành song về anh L cũng không cai nghiện được. Đến năm 2020 anh L bị bắt về tội mua bán trái phép chất ma túy và bị xử phạt 8 năm tù. Hiện nay anh L đang đi chấp hành án tại trại giam Yên Hạ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Hà Văn Khánh, sinh ngày 19/05/2005; cháu Hà Văn Hòa, sinh ngày 13/12/2006 và cháu Hà Văn Xâm, sinh ngày 19/8/2009 cháu khánh đã đủ tuổi trưởng thành và có gia đình riêng. Đối với hai cháu Hòa và Xâm. Chị Nh có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai cháu, nếu được nuôi dưỡng chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung cùng.

Về tài sản chung: Chị xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu tòa án xem xét.

Về nợ chung: Chị xác nhận vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/8/2024, bị đơn anh Hà Văn L trình bày:

Về tình cảm anh và chị Nh kết hôn với nhau vào năm 2003, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện và có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Mung.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chơi bời nghiện ma túy năm 2011 phải đi cai nghiện nhưng khi đi cai về anh cũng không từ bỏ được. Vì vậy vợ chồng sảy ra nhiều mâu thuẫn đến năm 2020 anh lại bị bắt về tội mua bán trái phép chất ma túy Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt 8 năm tù. Hiện nay anh đang đi chấp hành án tại trại giam Yên Hạ. Anh xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng đoàn tụ, nên anh đồng ý ly hôn với chị Nh.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Hà Văn Khánh, sinh ngày 19/05/2005; cháu Hà Văn Hòa, sinh ngày 13/12/2006 và cháu Hà Văn Xâm, sinh ngày 19/8/2009 cháu khánh đã đủ tuổi trưởng thành. Đối với hai cháu Hòa và Xâm. Anh cũng đồng ý với nguyện vọng của chị Nh là giao cả hai cháu Hòa và Xâm cho chị Nh nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nh.

Về tài sản chung: Anh xác nhận vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ chung: Anh cũng xác nhận vợ chồng không có nợ chung.

Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến.

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định: Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tòng Thị Nh và anh Hà Văn L. Về con chung: Giao cháu Hà Văn Hòa, sinh ngày 13/12/2006 và cháu Hà Văn Xâm, sinh ngày 19/8/2009 cho chị Tòng Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nh và anh Hòa đều xác nhận không có tài sản chung và nợ chung, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này. Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí xin ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Tòng Thị Nh có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với anh Hà Văn L có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Bản Cứp, xã Chiềng Mai, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án hôn nhân gia đình với quan hệ pháp luật tranh chấp xin ly hôn là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Tòng Thị Nh và anh Hà Văn L có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về yêu cầu xin ly hôn:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Tòng Thị Nh và anh Hà Văn L tự nguyện kết hôn vào năm 2003 và có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Mung. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cũng không được hòa thuận hạnh phúc, chị Nh cho rằng anh L nghiện ma túy không tu trí làm ăn, hay đánh chị, năm 2022 anh L cũng đã phải đi cai nghiện bắt buộc tại trại cai 03 xã Cò Nòi khi cai về anh L cùng không từ bỏ được ma túy, đến năm 2020 anh đã bị bắt về tội mua bán trái phép chất ma túy. Anh L cũng đồng ý với ý kiến của chị Nh. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh nghiện ma túy và đang phải đi chấp hành án. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, Việc chị Nh có đơn xin ly hôn anh L cũng đồng ý ly hôn. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nh là có căn cứ theo Điều 56 của luật hôn nhân và gia đình .

[2.2] Về con chung: Anh chị đều xác nhận trong thời kỳ hôn nhân có 03 con chung là cháu Hà Văn Khánh, sinh ngày 19/05/2005; cháu Hà Văn Hòa, sinh ngày 13/12/2006 và cháu Hà Văn Xâm, sinh ngày 19/8/2009. Hiện nay cháu Khánh đã trưởng thành và có gia đình riêng. Đối với cháu Hòa và cháu Xâm chị Nh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu cho đến khi các cháu trưởng thành, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con cùng, anh L cũng nhất trí với nguyện vọng của chị Nh. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn, giao cả hai cháu Hòa và Xâm cho chị Nh trực tiếp chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nh do chị Nh không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều xác định khẳng định không có tài sản chung và nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề này.

[2.4] Về án phí: Chị Nh xin miễn án phí dân sự về việc xin ly hôn do thuộc trường hợp người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Nh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tòng Thị Nh và anh Hà Văn L.

2. Về con chung: Giao cháu Hà Văn Hòa, sinh ngày 13/12/2006 và cháu Hà Văn Xâm, sinh ngày 19/8/2009 cho chị Tòng Thị Nh trực tiếp chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chấp nhận việc chị Nh không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh L được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh L được thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung vợ chồng: Không có.

4. Về nợ chung vợ chồng: Không có.

5. Về án phí: Chị Tòng Thị Nh được miễn án phí dân sự sơ thẩm do chị là người dân tộc cư trú ở xã vùng ba.

6.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

131
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về xin ly hôn số 45/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:45/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mai Sơn - Sơn La
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về