Bản án về xin ly hôn số 38/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG Đ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 38/2022/HNGĐ-ST NGÀY 06/05/2022 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Đ, Tòa án nhân dân huyện Quảng Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2021, về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2022 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quách Thị Tr, sinh năm 1973.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Tráng Lực, thị trấn Sịa, huyện Quảng Đ, tỉnh Th, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Phước L, sinh năm 1974.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Tráng Lực, thị trấn Sịa, huyện Quảng Đ, tỉnh Th; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 30 tháng 3 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quách Thị Tr trình bày như sau: Giữa chị và anh Nguyễn Phước L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Sịa, huyện Quảng Đ, tỉnh Th vào ngày 09 tháng 3 năm 2001. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh L thường xuyên chưởi bới, xúc phạm, đánh đập vợ con và đập phá đồ đạc trong nhà. Mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải và khuyên can, chị Tr cũng nhiều lần nhẫn nhịn bỏ qua nhưng anh L vẫn không thay đổi tính tình. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc. Chị Tr xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh L nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phước L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Cháu tên là Nguyễn Thị Kỳ D, sinh ngày 11/02/2002. Cháu D đã trên 18 tuổi, đủ khả năng lao động nên chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án huyện Quảng Đ đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như thông báo về phiên hòa giải lần 2, tống đạt, và làm thủ tục niêm yết theo quy định của pháp luật cho anh L nhưng anh L không đến Tòa án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Quách Thị Tr giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay đổi hay bổ sung gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Đ tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do nhưng Tòa án đã tống đạt hợp lệ, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị Quách Thị Tr được ly hôn với anh Nguyễn Phước L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Cháu tên là Nguyễn Thị Kỳ D, sinh ngày 11/02/2002. Cháu D đã trên 18 tuổi, đủ khả năng lao động nên chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Tr phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viện, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Quách Thị Tr có đơn xin ly hôn bị đơn là anh Nguyễn Phước L có nơi cư trú tại: Tổ dân phố Tráng Lực, thị trấn Sịa, huyện Quảng Đ, tỉnh Th nên tranh chấp trên được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Đ, tỉnh Th theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Phước L vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Quách Thị Tr và anh Nguyễn Phước L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Sịa, huyện Quảng Đ vào ngày 09 tháng 3 năm 2001, điều kiện và thủ tục kết hôn đúng quy định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2001 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị Tr, do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Anh L thường xuyên chưởi bới, xúc phạm, đánh đập vợ con. Cuộc sống chung của vợ chồng không có hạnh phúc, hai vợ chồng sống ly thân gần 2 năm nay. Chị Tr xác định không còn tình cảm với anh L nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Tr và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quách Thị Tr.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Cháu tên là Nguyễn Thị Kỳ D, sinh ngày 11/02/2002. Do cháu đã trên 18 tuổi, đủ khả năng lao động, chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Quách Thị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Chị Quách Thị Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Quách Thị Tr được ly hôn với anh Nguyễn Phước L.

2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Cháu tên là Nguyễn Thị Kỳ D, sinh ngày 11/02/2002. Do cháu đã trên 18 tuổi, đủ khả năng lao động các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 147 BLTTDS 2015. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chị Quách Thị Tr phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000332 ngày 22/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Đ, tỉnh Th. Chị Tr đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

110
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về xin ly hôn số 38/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:38/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quảng Điền - Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:06/05/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về