Bản án về xin ly hôn số 17/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 17/2024/HNGĐ-ST NGÀY 04/09/2024 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 90/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13/6/2024 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/8/2024 của TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lương Văn H, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Võ Thị N, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Chị N vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 10/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lương Văn H trình bày:

Về hôn nhân: Anh H và bị đơn chị Võ Thị N tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng 02 năm gần đây thì xảy ra mâu thuẫn, chị N đã bỏ nhà đi S sinh sống. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị N. Về con chung: Có 01 con chung Lương Bảo L, sinh ngày 11/10/2021, chị N bỏ nhà đi để lại con cho anh H nuôi nên anh yêu cầu tiếp tục được nuôi con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên nội dung yêu cầu ly hôn, đề nghị được nuôi con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Không yêu cầu giải quyết tài sản; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện VKSND huyện Sông Hinh phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia phiên tòa và phiên tòa diễn ra đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Đề nghị giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu, đề nghị không xem xét. Về tài sản: Không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh H khởi kiện xin ly hôn với chị N theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ là tranh chấp ly hôn, giải quyết trách nhiệm nuôi con. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên theo quy định khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập, tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn không có mặt tại phiên tòa nên theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị N tự nguyện tìm hiểu, chung sống từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa, anh H vẫn giữ nguyên nguyện vọng được ly hôn với bị đơn chị Võ Thị N vì xét thấy không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã liên lạc, thông báo cho chị N nhiều lần nhưng chị N không tới và không cung cấp địa chỉ hiện sinh sống là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần tại địa chỉ đăng ký thường trú, nhưng chị N vẫn cố tình vắng mặt nên không có lời khai, là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Theo xác minh, cơ quan quản lý gia đình và trẻ em (Hội liên hiệp phụ nữ xã Đ) xác định: Từ đầu năm 2024, vợ chồng anh H và chị N phát sinh mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, bất đồng quan điểm, không còn hạnh phúc và chị N đã bỏ nhà vào S. Do đó, xác định quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung: Lương Bảo L, sinh ngày 11/10/2021, hiện đang do anh H trực tiếp nuôi dưỡng, nên anh yêu cầu tiếp tục được nuôi con. Bị đơn vắng mặt không có ý kiến. Xét thấy: Mặc dù con chưa đủ 36 tháng tuổi, tuy nhiên chị N bỏ nhà đi để lại con cho anh H nuôi từ nhiều tháng nay nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, bị đơn vắng mặt không có ý kiến, nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0001827 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 84, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương Văn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Lương Văn H được ly hôn bị đơn chị Võ Thị N.

2. Về con chung: Giao con chung Lương Bảo L, sinh ngày 11/10/2021 cho anh Lương Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Anh H không yêu cầu chị Võ Thị N cấp dưỡng nuôi con.

Chị Võ Thị N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng quyền thăm nuôi con để gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người trực tiếp nuôi con.

Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, vì quyền lợi của con, khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Nguyên đơn anh Lương Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001827 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh. Anh Lương Văn H đã thi hành xong phần án phí.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

122
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về xin ly hôn số 17/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:17/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sông Hinh - Phú Yên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về