TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG
BẢN ÁN 10/2024/HNGĐ-ST NGÀY 16/09/2024 VỀ XIN LY HÔN
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, về việc “Xin Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 và thông báo về việc mở lại phiên tòa dân sự sơ thẩm số 05/2024/TB-TA ngày 31 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thùy T, sinh năm 1993; địa chỉ: SN A, tổ E, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Tô Xuân L, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 6 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị Thùy T trình bày:
Chị và anh Tô Xuân L có tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ngày 07 tháng 10 năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại phường c, thành phố T đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh L chơi bời, nợ nần, không quan tâm đến gia đình vợ, con. Khi xảy ra mâu thuẫn không xảy ra đánh đập, xô xát và vợ chồng đã tự giải quyết mâu thuẫn nhiều lần. Chị T và anh L đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tô Xuân L.
Về con chung: Chị T và anh L có 01 con chung, sinh ngày 20/3/2017, mang tên Tô Đức T1.
Hiện nay con chung đang sống cùng chị T, sau khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung và không yêu cầu anh L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, về nợ chung: Chị T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, đồng thời cũng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Tô Xuân L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhung vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi được lời khai, không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
1. về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Về xác định thẩm quyền: Chị T khởi kiện ly hôn anh Tô Xuân L trú tại xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng do vậy thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hòa An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật tố Tụng dân sự, cụ thể như: Lập hồ sơ vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự nguyên đơn là chị Đinh Thị Thùy T, bị đơn là anh Tô Xuân L, xác định quan hệ tranh chấp là Ly hôn, xác minh, thu thập các tài liệu chứng cứ đúng quy định của pháp luật. Thông báo về phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đầy đủ. Lập biên bản về việc không tống đạt được văn bản, biên bản niêm yết đúng quy định.
Về việc gửi hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát: Tòa án đã gửi hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 15 ngày để nghiên cứu theo đúng quy định.
+ Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên toà: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể như sau: Tòa án nhân dân huyện Hòa An đã triệu tập bị đơn đến tòa để tham gia phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và ý kiến của người tham gia tố tụng tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố Tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận. Với các cơ sở trên, đề nghị HĐXX xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Đinh Thị Thùy T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tô Xuân L là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh L có Hộ khẩu thường trú tại huyện H, tỉnh Cao Bằng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
[2] Về tố tụng:
Anh Tô Xuân L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ ba để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt, chị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết và tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập dự phiên tòa xét xử đến lần thứ hai nhưng anh Tô Xuân L vẫn vắng mặt không có lý do. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn chị Đinh Thị Thùy T và bị đơn anh Tô Xuân L.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Đối với yêu cầu ly hôn của chị T: Chị Đinh Thị Thùy T và anh Tô Xuân L tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 10 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nên hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau; thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến tình cảm rạn nứt. Nguyên nhân do anh L chơi bời, nợ nần, không quan tâm đến gia đình vợ, con. Hai vợ chồng đã tự hòa giải nhiều lần, nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn sự chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc chị T và anh L đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh L.
Biên bản xác minh ngày 06/8/2024, ông Tô Xuân T2 là bố đẻ của anh L, xác nhận: Những văn bản, giấy tờ của Tòa án nhân dân huyện Hòa An gửi cho anh L gia đình ông đã nhận được nhưng không thể giao được cho anh L vì hiện nay anh L không ở nhà, đi đâu không biết, gia đình không liên lạc được. Anh L và chị T đã ly thân từ khoảng năm 2020, còn nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ông không biết, gia đình ông chưa được hòa giải việc mâu thuẫn giữa anh L và chị T. Ngoài ra, ông không có ý kiến trình bày thêm.
Biên bản xác minh ngày 06/8/2024, anh Đàm Văn V, Bí thư, Trưởng xóm X, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng cho biết chị Đinh Thị Thùy T và anh Tô Xuân L có đăng ký HKTT tại xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng, nhưng hai vợ chồng không trực tiếp sinh sống tại xóm T. Chỉ có bố mẹ anh L sinh sống tại xóm T, thỉnh thoảng chị T và anh L về thăm bố, mẹ nên xóm chưa được hòa giải việc mâu thuẫn giữa chị T và anh L. Hiện nay, hai vợ chồng anh L, chị T còn chung sống hay ly thân thì anh V không biết. Ngoài ra, anh V không có ý kiến trình bày thêm.
Căn cứ các biên bản xác minh nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Anh L đã được triệu tập đến Tòa án nhiều lần để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh L vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên tòa xét xử. Điều này thể hiện anh L không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh L không còn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh L đã phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Chị T và anh L có 01 con chung, sinh ngày 20/3/2017, mang tên Tô Đức T1.
Hiện nay con chung đang sống cùng chị T, sau khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung và không yêu cầu anh L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét nguyện vọng của cháu Tô Đức T1, nếu bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu được sống cùng mẹ.
Do chưa có ý kiến của anh L về người trực tiếp nuôi con chung, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của chị T và cháu T1 là tự nguyện, không bị ép buộc, không vi phạm điều cấm, phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T và cháu T1. Nếu sau ly hôn có tranh chấp, các bên đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.
[4] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị T tự khai giữa chị và anh L không có tài sản chung, đồng thời vợ chồng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến của anh L về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết, nếu sau ly hôn có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ƯBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Đinh Thị Thùy T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Thùy T về việc yêu cầu ly hôn với anh Tô Xuân L.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thùy T được ly hôn với anh Tô Xuân L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 71 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 07/10/2016 không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: Giao cháu Tô Đức T1, sinh ngày 20/3/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí: Chị Đinh Thị Thùy T phải chịu 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn nộp vào ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ vào 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001420 ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa An. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo đúng quy định./.
Bản án về xin ly hôn số 10/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 10/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hoà An - Cao Bằng |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 16/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về