Bản án về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 47/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 47/2022/HNGĐ-ST NGÀY 31/08/2022 VỀ VIỆC LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 117/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Bích M, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp P, xã PL, huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”

Bị đơn: Ông Thạch K, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp P, xã PL, huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện; bản khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Đoàn Thị Bích M trình bày:

Về hôn nhân: Bà Đoàn Thị Bích M và ông Thạch K tự nguyện sống chung, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PL, huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 31/3/2009. Vợ, chồng sống không hạnh phúc do không hợp nhau và ông K thường xuyên uống rượu về nhà đánh đập bà M. Từ năm 2919, ông K phải đi chấp hành án nên vợ chồng không còn sống chung từ đó cho đến nay. Nay, bà M nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà M được ly hôn ông K.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà M và ông K có một con chung tên là Thạch K1, sinh ngày 03/10/2008, hiện nay đang sống với bà M. Khi ly hôn bà M yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/8/2022, bị đơn ông Thạch K trình bày:

Về hôn nhân: Ông Thạch K và bà Đoàn Thị Bích M tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PL, huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2009. Sau khi kết hôn vợ, chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên bất đồng trong cuộc sống. Từ năm 2019, ông K phải đi chấp hành án phạt tù nên từ đó không còn sống chung với bà M. Nay bà M yêu cầu ly hôn, ông K đồng ý ly hôn bà M.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông K và bà M có một con chung tên là Thạch K1, sinh ngày 03/10/2008, hiện nay đang sống với bà M. Ông K đồng ý giao cháu K1 cho bà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định pháp luật.

Đối với các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho bà M được ly hôn ông K và giao cháu K1 cho bà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông K không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Tòa án nhân dân huyện D nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn ông Thạch K có nơi cư trú tại xã PL, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt (BL: 19, 20) nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà M và ông K theo quy định.

[2]. Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 31/3/2009 của Ủy ban nhân dân xã PL, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xác định hôn nhân giữa bà Đoàn Thị Bích M và ông Thạch K là hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau. Nay, bà M và ông K đều xác nhận hôn nhân không có hạnh phúc và cùng thống nhất ly hôn, nhưng do ông K đang phải chấp hành án nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa bà M và ông K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà M được ly hôn ông K theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[3]. Về con chung: Xét yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà M thấy rằng, hiện nay cháu K1 đang ở với bà M và ông K đồng ý giao cháu K1 cho bà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời cháu K1 cũng có nguyện vọng được ở với bà M nếu Tòa án giải quyết cho bà M và ông K ly hôn. Vì vậy, giao cháu K1 cho bà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu nên ông K không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4]. Về tài sản và nợ chung: Bà M và ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì bà M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Đoàn Thị Bích M được ly hôn ông Thạch K.

2. Về con chung: Giao cháu Thạch K1, sinh ngày 03/10/2008 cho bà Đoàn Thị Bích M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Thạch K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc các tổ chức, cá nhân được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đoàn Thị Bích M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009789 ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Đoàn Thị Bích M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

81
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 47/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:47/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đất Đỏ - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/08/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về