TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
BẢN ÁN 10/2025/KDTM-PT NGÀY 30/05/2025 VỀ TRANH CHẤP YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN
Trong các ngày 10 và 17 tháng 4 năm 2025 và ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLPT-KDTM ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển".
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 17/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 05/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 03 năm 2025 và Quyết định tạm ngưng phiên tòa phiên tòa số 02/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 3 năm 2025, Quyết định tạm ngưng phiên tòa ngày 04/2025/QĐPT-KDTM ngày 17 tháng 4 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên tòa phúc thẩm số 17/TB-TA ngày 05/5/2025, giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC).
Trụ sở: Tầng E Số B C, phường C. quận Đ. Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Uông Đông H - Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Nguyễn Ngọc H1. Địa chỉ: A Quán T, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
2. Ông Phan Minh T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số B khu B, L, V, Quận H, Hà Nội. (Vắng mặt) (Theo văn bản ủy quyền số 15/2023/GUQ-MIC ngày 15/3/2023) - Bị đơn: Công ty TNHH T5.
Trụ sở: 529 đường số H, Khu dân cư A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Bích C - Chức vụ: Giám đốc.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty Trách nhiệm Hữu hạn T6.
Trụ sở: 18D3 Khu Đ, N, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đức C1 - Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số A Lô G, Đường D, KDC T, phường 7, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Cô mặt) Hoặc:
Ông Võ Nguyên T1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số A Đ, Phường A, Quận P Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt) Hoặc:
Ông Vũ Xuân B, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số A B, phường 7, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt) (Theo văn bản ủy quyền ngày 21/02/2025) 2. Công ty Cổ phần M2 Trụ sở: Số E G, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Duy H2 - Tổng Giám đốc. (Vắng mặt)
3. Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên N2 Trụ sở: 204 đường D, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Nguyên N – Giám đốc, Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Nguyên N: Bà Phan Hoàng Q Phó Giám đốc dự án (Theo Giấy ủy quyền số 66 ngày 26/7/2024). (Vắng mặt)
- Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn T6
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 15/3/2023 và ngày 17/4/2023, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) do ông Nguyễn Ngọc H1 đại diện trình bày:
Ngày 06/11/2021, MIC ký “Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa" số 7/21/IGCN-HH.3/017-HH với Công ty TNHH MTV N2 (Công ty N2). Đối tượng bảo hiểm; điều kiện bảo hiểm; số tiền bảo hiểm được MIC và Công ty N2 thỏa thuận cụ thể tại hợp đồng 7/21/IGCN-HH.3/017-HH. Theo đó, chỉ tiết hàng hóa bảo hiểm là máy biến thế - biến áp và vật tư ngành điện các loại. MIC đã phát hành Giấy chứng nhận bảo hiểm số: 18185/21/GCN-HH.3/017-HH đề ngày 17/12/2021.
Ngày 15/12/2021, Công ty N2 kỷ “Hợp đồng vận chuyển" số 1512/HĐSL-2021/PBN-NĐ với Công ty TNHH T5 (Công ty T5). Theo đó, Công ty N2 thuê Công ty T5 Nguyễn vận chuyển 03 thân máy biến áp từ cảng S - H đến cảng Ô -Cần Thơ bằng sà lan mặt boong SG 9206 được lai dắt bởi tảu kéo.
Quá trình thực hiện hợp đồng. Công ty T5 thuê sà lan M và tàu kéo Mỹ An 25 thuộc sở hữu của công ty TNHH T6 (Công ty T6) thực hiện công việc vận chuyển, lai dắt 03 thân máy biến áp.
Ngày 22/12/2021, M biến áp 3 pha 500KV vận chuyển trên sà lan M và tàu kéo Mỹ An 25 đã xảy ra tổn thất trên sông M tại khu vực cầu T, QL54, huyện T, tỉnh Cần Thơ.
Sau khi tổn thất xảy ra, Công ty N2 đã liên tục thúc giục; gửi nhiều văn bản tới Công ty T5 và Công ty T6 để đề nghị cùng họp bàn nhằm thống nhất phương ản xử lý tổn thất lô hàng máy biến áp 3 pha 500KV. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, Công ty T5 và Công ty T6 luôn trốn tránh trách nhiệm, không đưa ra bất kỳ một lý do hoặc một phản hồi nào bằng văn bản tới Công ty N2.
Ngày 14/12/2022, Công ty N2 và chủ sở hữu lô hàng Máy biến áp 3 pha 500KV là Công ty Cổ phần M2 (Công ty M2) đã có "Giấy ủy quyền", giao cho MIC toàn quyền thay mặt và nhân danh họ yêu cầu bên thứ 3 bồi hoàn trả số tiền MIC đã bồi thường. MIC được toàn quyền thực hiện các công việc liên quan đến việc yêu cầu hoàn trả số tiền bồi thường trước các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có liên quan.
Sau khi Công ty N2 và Công ty M2 hoàn thiện các thủ tục đề nghị thanh toán tiền bảo hiểm hàng hóa, MIC đã thanh toán số tiền bồi thường 12.470.902.881 đồng cho Công ty N2 và Công ty M2 trên cơ sở của Giấy chứng nhận bảo hiểm số: 18185/21/GCN-HH.3/017-HH.
Ngày 14/12/2022, Công ty N2 đã có Văn bản số: 136/2022/TB/NĐ-PBN "V/v Thông báo thế quyền" gửi Công ty T5.
Theo đó, Công ty N2 thông báo cho Công ty T5 biết: Nam Đạt đã được MIC bồi thường cho tổn thất và thiệt hại của máy biến áp 3 pha 500KV xảy ra ngày 22/112/2021 số tiền là 12.470.902.881 đồng; “Nam Đạt đã có Giấy ủy quyền đòi Người thứ ba cho M1 và T2 chấp nhận bồi thường và chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn cho MIC. Do vậy, MIC là công ty D được N ủy quyền toàn quyền thay mặt đứng ra giải quyết và thụ hưởng toàn bộ các quyền và lợi ích hợp pháp thuộc về N phát sinh từ Hợp đồng vận chuyển số 1512/HĐSL-2021/PBN-NĐ ngày 15 /12/2021 trong phạm vi số tiền MIC đã bồi thường cho Nam ĐI." Sau khi nhận "thế quyền" từ Công ty N2, MIC tiếp tục yêu cầu Công ty T5 và Công ty Tó bồi hoàn số tiền bảo hiểm do MIC đã chỉ trả. Tuy nhiên, Phi Bịch NI và Mỹ A vẫn lần tránh, chay ỳ và cổ tỉnh không hợp tác.
Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa giải quyết: Buộc Công ty TNHH T5 và Công ty TNHH T6 có nghĩa vụ liên đới trả lại cho MIC toàn bộ số tiền bảo hiểm MIC đã chỉ bồi thường cho Công ty TNHH MTV N2 và Công ty Cổ phần M2 Điều khiển 3C là 12.470.902.881 đồng (Mười hai tỷ, bốn trăm bảy mươi triệu, chín trăm linh hai nghìn, tám trăm tám mươi mốt đồng).
Bị đơn Công ty TNHH T5:
Đối với bị đơn Công ty TNHH T5: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cử và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bị đơn Công ty TNHH T5 vẫn vắng mặt, không có văn bản ghi ý kiến đổi với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phán tố và không cung cấp chứng cứ cho Tòa án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T6:
Đối với Công ty T6: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cử và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng Công ty TNHH T6 vẫn vắng mặt, không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu độc lập và không cung cấp chứng cứ cho Tòa án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần M2 Điều khiển 3C trình bày tại Văn bản số 485-24/Cv-3C ngày 19 tháng 8 năm 2024 xác nhận: Công ty M2 là chủ sở hữu lô hàng Máy biến áp 3 pha 500KV, Công ty M2 có hợp đồng thuê Công ty N2 vận chuyển 03 thân máy biến áp. Ngày 15/12/2021, Công ty N2 ký “Hợp đồng vận chuyển” số 1512/HĐSL-2021/PBN-NĐ thuê Công ty TNHH T5 Nguyễn vận chuyển 03 thân máy biến áp từ cảng S - H đến cảng Ô -Cần Thơ, Công ty T5 thuê sà lan Mỹ An 22 và tàu kéo Mỹ An 25 của công ty TNHH T6 thực hiện công việc vận chuyển, lai dắt 03 thân máy biến áp. Ngày 22/12/2021, M biến áp 3 pha 500KV vận chuyển trên sà lan M và tàu kéo Mỹ An 25 đã xảy ra tai nạn bị tổn thất trên sông M tại khu vực cầu T, QL54, huyện T, tỉnh Cần Thơ.
Ngày 21/12/2022, Công ty M2 đã hoàn thiện các thủ tục đề nghị thanh toán tiền bảo hiểm hàng hóa, MIC đã thanh toán 6.833.712.335 đồng trong số tiền bồi thưởng 12.470.902.881 đồng cho Công ty M2 và Công ty N2 trên cơ sở của Giấy chứng nhận bảo hiểm số: 18185/21/GCN-HH.3/017-HH. Theo đó, Công ty M2 đã có “Giấy ủy quyền”, giao cho MIC toàn quyền thay mặt và nhân danh yêu cầu bên thứ 3 bồi hoàn trả số tiền MIC đã bồi thường. MIC được toàn quyền thực hiện các công việc liên quan đến việc yêu cầu hoàn trả số tiền bồi thường trước các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có liên quan.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV N2: Công ty N2 trình bày tại Văn bản số 110-2024/CV-NĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 xác nhận: Sau khi Công ty N2 hoàn thiện các thủ tục đề nghị thanh toán tiền bảo hiểm hàng hóa, MIC đã thanh toán 5.637.190.546 đồng trong số tiền bồi thường 12.470.902.881 đồng cho Công ty N2 và Công ty M2 trên cơ sở của Giấy chứng nhận bảo hiểm số: 18185/21/GCN-HH.3/017-HH. Ngày 14/12/2022, Công ty N2 đã có “Giấy ủy quyền", giao cho MIC toàn quyền thay mặt và nhân danh Công ty N2 yêu cầu bên thứ 3 bồi hoàn trả số tiền MIC đã bồi thường. MIC được toàn quyền thực hiện các công việc liên quan đến việc yêu cầu hoàn trả số tiền bồi thường trước các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có liên quan.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 17/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã xử (tôm tất):
Áp dụng các Điều 21, Điều 30, Điều 35, Điều 96, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 1 Điều 275, khoản 1 Điều 541 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 275, khoản 1 Điều 541, Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 325 Luật hàng hải Việt Nam năm 2015; Điều 50, Điều 306, Điều 302, Điều 305 Luật thương mại năm 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng dịch vụ vận chuyển” theo Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa số 07/21/IGCN-HH.3/017-HH ngày 06/11/2021 đối với Công ty TNHH T5 và Công ty TNHH T6.
2. Buộc Công ty TNHH T5 và Công ty TNHH T6 có nghĩa vụ liên đới trả lại cho Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) toàn bộ số tiền bảo hiểm đã chỉ bồi thường cho Công ty TNHH MTV N2 và Công ty Cổ phần M2 Điều khiển 30 là 12.470.902.881 đồng (Mười hai tỷ, bốn trăm bảy mươi triệu, chín trăm linh hai nghìn, tám trăm tám mươi mốt đồng).
Buộc Công ty TNHH T5 hoàn trả cho Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) số tiền 6.235.451.441 đồng (Sáu tỷ hai trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi mốt ngàn bốn trăm bốn mươi mốt đồng).
Buộc Công ty TNHH T6 hoàn trả cho Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) số tiền 6.235.451.441 đồng (Sáu tỷ hai trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi mốt ngàn bốn trăm bốn mươi mốt đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thi hành án; quyền, thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 21/10/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH T6 kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Ông Nguyễn Minh Đ, ông Võ Nguyên T1 và ông Vũ Xuân B đại diện theo ủy quyền của Công ty T6 thống nhất trình bày: Theo đơn kháng cáo, Công ty T6 yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Nay Công ty T6 thay đổi yêu cầu kháng cáo là yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty T6 phải chịu trách nhiệm liên đới với Công ty T5 Nguyễn trả lại số tiền bồi thường cho MIC và đề nghị xem xét lại phần án phí. Xét việc thay đổi yêu cầu kháng cáo của Công ty T6 là không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo, đại diện Công ty T6 trình bày như sau: Về Hợp đồng vận chuyển số 1512/HDSL-2021/PBN-NĐ ngày 15/12/2021 giữa Công ty N2 ký kết với Công ty T5 Nguyễn không có liên quan gì tới Công ty T6 nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ của Công ty T6. Tại thời điểm xảy ra tai nạn dẫn đế sự kiện bồi thường của Tổng Công ty cổ phần B1 thi tảu kéo M (SG 5916) đang lai kéo salan Heng Tyong Lan 1 thi công rải cáp cho dự án Điện gió tại thị xã D. Trà Vinh không đi đâu khác ngoài công trường đang thi công có Truyền trưởng Lê Văn T3 và thuyền viên Lê Văn L có bản khai làm chứng. Đồng thời, Đồn biên phòng của khẩu cảng Trường L1 cũng xác nhận từ ngày 01/8/2021 đến ngày 31/12/2021 tàu kéo Mỹ An BKS SG 5916 có hoạt động tại vùng biển H - V - thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty T6, cải sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty Tó phải có trách nhiệm liên đới với Công ty P trả tiền cho nguyên đơn. Đề nghị xem xét lại phần án phi sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vấn đề ủy quyền tham gia tố tụng của các đương sự còn lại trong vụ án thì Công ty T6 không có ý kiến, Liên quan đến toàn bộ số tiền bảo hiểm đã chỉ bồi thường cho Công ty TNHH MTV N2 và Công ty Cổ phần M2 Điều khiển 3C là 12.470.902.881 đồng mà nguyên đơn yêu cầu thì Công ty T6 không có ý kiến gì.
Ông Nguyễn Ngọc H1 đại diện theo ủy quyền của Tổng Công ty cổ phần B1 trình bày: Tàu kẻo M (số đăng ký SG-5916) kéo theo sà lan. M (số đăng ký 9206) thực hiện việc vận chuyển 03 máy biến áp và gặp sự cố gây tổn thất tại khu vực cầu T, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 22 tháng 12 năm 2021 là có thật, đã diễn ra trên thực tế thể hiện tại Biên bản tai nạn giao thông do công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long do thuyền trường Lê Vân C2 điều khiển tàu kéo nêu trên báo cáo với cơ quan chức năng có thẩm quyền theo đúng quy định, có bản tường trình cụ thể của ông Lê Văn C2 vào ngày 22/12/2021 có xác nhận của Công an thị trấn T về sự việc xảy ra tại nạn sau va chạm và thể hiện tại Công văn số 92/CAH-GT ngày 13/4/2022 xác định thiệt hại xáy đối với 02 máy biến áp cho Công ty N2 là có thật. Vì vậy, Công ty T6 cho rằng tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 22/12/2021, tàu kéo Mỹ An 25 - SG5916 không có mặt tại khu vực cầu T, tỉnh Vĩnh Long là không có căn cứ. Giữa Công ty N2 và Công ty T6 có phát sinh hợp đồng vận chuyển tài sản bằng hành vì cụ thể và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, phê duyệt. Thực hiện hợp đồng vận chuyển số 1512/HDSL-2021/PBN-NĐ giữa Công ty N2 và Công ty T5 thể hiện cụ thể: Ngày 17/12/2021, Công ty N2 đã gửi đơn đề nghị duyệt phương án vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng trên đường thủy có kèm theo phương án nội tuyến TP HCM đi cảng nhiệt điện Ở đến Cảng vụ Hàng hải T7 và được phê duyệt bởi Quyết định số 582/QĐ-CVHHTPHCM cùng ngày 17/12/2021. Đồng thời, theo nội dung của Hợp đồng vận chuyển số 1512 với Công ty T5 vận chuyển máy biến áp bằng sà lan số hiệu SG9206 thuộc sở hữu của Công ty Tó. Do vậy, căn cứ Điều 530 Bộ luật Dân sự có đủ cơ sở khẳng định việc giao kết hợp đồng vận chuyển giữa Công ty T6 và Công ty N2 đã được xác lập. Thực tế đã có thiệt hại xảy ra. Sau khi phát sinh tổn thất, trên cơ sở của Giấy chứng nhận bảo hiểm số: 18185/21/GCN-HH.3/017-HH, MIC đã chỉ trả bồi thường cho Công ty N2 và Công ty M2 tổng số tiền 12.470.902.881 đồng (Công ty N2 5.637.190.546 đồng, Công ty M2 6.833.712.335 đồng). Đồng thời, Công ty N2 và Công ty M2 thừa nhận đã nhận đủ số tiền và có văn bản ủy quyền vào ngày 21/12/2022 giao cho MIC toàn quyền thay mặt và nhân danh Công ty N2 và Công ty M2 yêu cầu bên thứ 3 là Công ty T5 và Công ty T6 bồi hoàn lại số tiền mà MIC đã chỉ bồi thường là đúng với quy định của pháp luật. Từ những phần tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Tó và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T6 đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện của Công ty T6 xác định giữa Công ty T6 và Công ty T5 không ký kết hợp đồng vận chuyển. Đồng thời, đại diện của Tổng Công ty B1 thừa nhận không cung cấp được hợp đồng vận chuyển giữa Công ty T5 và Công ty T6.
Các bên đương sự xác định, không có thỏa thuận ba bên giữa Công ty N2, Công ty T5 và Công ty T6 về việc thực hiện hợp đồng vận chuyển giữa Công ty T5 và Công ty N2, không có thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có thiệt hại xảy ra.
Mặt khác, tại Giấy ủy quyền kỳ ngày 21/12/2022 giữa bên ủy quyền là Công ty M2 và Công ty N2 với bên nhận ủy quyền là Tổng Công ty B1 xác định: Công ty M2 và Công ty N2 đồng ý ủy quyền cho Tổng Công ty B1 thay mặt Công ty M2 và Công ty N2 yêu cầu bên thứ ba bồi hoàn số tiền mà Tổng Công ty B1 đã bồi thường, Tổng Công ty B1 được toàn quyền làm việc với bên thứ ba trong vụ tổn thắt là Công ty T5... Giấy ủy quyền trên không có nội dung xác định Tổng Công ty B1 được thay mặt Công ty M2 và Công ty N2 yêu cầu Công ty T6 bồi hoàn số tiền mà Tổng Công ty B1. Ngoài ra, không có tài liệu nào thể hiện, Tổng Công ty B1 được quyền thay mặt Công ty M2 và Công ty N2 yêu cầu Công ty T6 bồi hoàn số tiền trên.
Do đó, không đủ cơ sở buộc Công ty Tó liên đới Công ty T5 trả lại cho Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) toàn bộ số tiền bảo hiểm đã chỉ bồi thường cho Công ty N2 và Công ty M2 mà trách nhiệm bồi hoàn cho Tổng Công ty Cổ phần B1 số tiền trên thuộc về Công ty T5. Nếu Công ty T5 và Công ty Tó có tranh chấp về số tiền phải bồi hoàn cho Tổng Công ty Cổ phần B1 thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác để được giải quyết theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích nên trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty T6. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hồi đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm số 17/2024/KDTM-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC), buộc Công ty TNHH T5 có nghĩa vụ trả lại cho Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) toàn bộ số tiền bảo hiểm đã chỉ bồi thường cho Công ty TNHH MTV N2 và Công ty Cổ phần M2 là 12.470.902.881 đồng; Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) về việc yêu cầu Công ty T6 liên đới Công ty T5 bồi thường số tiền trên; Công ty T5 án phí sơ thầm trên số tiền phải hoàn trả cho Tổng Công ty Cổ phần B1: Tổng Công ty Cổ phần B1 phải chịu án phí sơ thẩm đổi với yêu cầu buộc Công ty T6 liên đới Công ty T5 hoàn trả nhưng không được chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Công ty T6 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T6 thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Việc xét xử văng mật các đương sự: Công ty N2, Công ty M2, ông Phan Minh T đại diện cho Tổng Công ty Cổ phần B1 có đơn xin xét xử vắng mặt và thuộc trường hợp quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vì xét xử phúc thẩm: Công ty T6 chỉ kháng cáo một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm theo hướng cải sửa một phần bản án sơ thẩm về việc không buộc Công ty T6 phải chịu trách nhiệm liên đới với Công ty T5 trả lại cho Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) toàn bộ số tiền bảo hiểm đã chỉ bồi thường cho Công ty TNHH MTV N2 và Công ty Cổ phần M2 Điều khiển 3C là 12.470.902.881 đồng. Căn cứ theo Điều 293 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại nội dung có khảng cáo của bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
[4] Theo các tài liệu, chứng cử và sự xác nhận của các bên:
[4.1] Ngày 06/11/2024, Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) có ký Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa số 07/21/IGCN-HH.3/017-HH với Công ty TNHH MTV N2, hàng hóa được bảo hiểm là Máy biến áp 3 pha 500KV thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần M2;
[4.2] Ngày 15/12/2021, Công ty N2 ký Hợp đồng vận chuyển số 1512/HĐSL-2021/PBN-NĐ với Công ty TNHH T5, với nội dung thuê Công ty T5 Nguyễn vận chuyển 03 thân máy biến áp từ cảng S - H đến căng Ô - Cần Thơ bằng sá lan mặt boong SG 9206 được lai dắt bởi tàu kéo, với đơn giá khoán gọn là 250.000.000 đồng;
[4.3] Quá trình thực hiện hợp đồng vận chuyển, đại diện nguyên đơn trình bảy: Công ty T5 thuê Sà lan M và tàu kéo Mỹ An 25 thuộc sở hữu của Công ty T6 (nhưng không có hợp đồng thuê) thực hiện công việc vận chuyển, lai dắt 03 thân máy biến áp.
[4.4] Về sự cổ đối với Sà lan M 22 và tàu kéo Mỹ An 25 và yêu cầu hoàn trả số tiền đã chỉ bồi thường của nguyên đơn: Ngày 22/12/2021, khi Sà lan M 22 và tàu kéo Mỹ An 25 vận chuyển Máy biến áp 3 pha 500KV trên sông M tại khu vực cầu T, Quốc lộ E, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì xảy ra tai nạn, gây ra tổn thất cho hàng hóa vận chuyển. Công ty T6 cho rằng tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 22/12/2021, Tâu kéo M 25 (số đăng ký SG-5916) đang hoạt động tại vùng biển thị xã D, tỉnh Trà Vĩnh từ ngày 01/8/2021 đến ngày 31/12/2021 theo Văn bản xác nhận số 1203-2025/CV-MA của Đồn biên phòng cửa khẩu cảng T8. Tuy nhiên, ngày 24/4/2025, Đồn biên phòng cửa khẩu cảng T8 có văn bản số 34/CV-ĐBP xác định hủy nội dung xác nhận thời gian hoạt động của Tàu kẻo M 25 (số đăng ký SG-5916) tại Văn bản số 1203-2025 và đính chính lại thời gian hoạt động của Tàu kéo M 25 (số đăng ký SG-5916) từ ngày 01/8/2021 đến ngày 27/11/2021. Sau đó, T4 kéo M (số đăng ký SG-5916) đăng ký thủ tục rời đi B - Bến Tre. Nhận thấy, vụ việc tai nạn xảy ra trên sông M thì Công an thị trấn T đã lập biên bản vụ tai nạn giao thông vào đúng ngày xảy ra tai nạn là ngày 22/12/2021. Sau đó, có xác nhận của Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Long theo Văn bản số 21/CAH-GT ngày 06 tháng 4 năm 2022 nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải tiếp tục xác minh quá trình hoạt động của Tàu kéo M 25 (số đăng ký SG-5916) từ giai đoạn ngày 27/11/2021 đến trước ngày 22/12/2021. Đồng thời, theo Báo cáo Giám định cuối ngày 02/11/2022, xác định giá trị tổn thất hàng hóa mà MIC phải thanh toán cho Công ty N2 và Công ty M2 là 13.285.160.927 đồng.
[4.5] Về giá trị hàng hóa bị thiệt hại: Theo Điều 4.2 của Hợp đồng vận chuyển số 1512/HDSL-2021/PBN-NĐ ngày 15/12/2021 có quy định: "... Trường hợp hàng hóa bị hư hỏng, mất mát, do lỗi của bên B (Công ty T5) thì phải bồi thường 100% giá trị tại thời điểm xảy ra tổn thất". Sau khi phát sinh tổn thất, trên cơ sở của Giấy chứng nhận bảo hiểm số: 18185/21/GCN-HH.3/017-HH, MIC đã chỉ trả bồi thường cho Công ty N2 và Công ty M2 tổng số tiền 12.470.902.881 đồng (Công ty N2 5.637.190.546 đồng, Công ty M2 6.833.712.335 đồng). Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, tại văn bản trình bày ý kiến, Công ty N2 và Công ty M2 đều thừa nhận đã nhận đủ số tiền 12.470.902.881 đồng từ phía MIC. Quá trình tố tụng tại Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm, bị đơn Công ty T5 vắng mặt cũng không có ý kiến gì đối với số tiền đã chỉ bồi thường của nguyên đơn là 12.470.902.881 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty Tó cũng không có ý kiến gì đối với số tiền 12.470.902.881 đồng mà MIC đã chỉ trả bồi thường cho Công ty N2 và Công ty M2.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty T6, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[5.1] Nguyên đơn đã thanh toàn cho Công ty N2 và Công ty M2 tổng số tiền 12.470.902.881 đồng (Công ty N2 5.637.190.546 đồng, Công ty M2 6.833.712.335 đồng) theo các giấy báo nợ ngày 27/12/2022 và ngày 17/8/2023 và Công ty N2 và Công ty M2 đã có văn bản đồng ý cho nguyên đơn thế quyền của mình để khởi kiện thể hiện tại Văn bản số: 136/2022/TB/NĐ-PBN ngày 14/12/2022 “V/v Thông báo thế quyền” và giấy ủy quyền ngày 21/12/2022. Do đó, nguyên đơn đã khởi kiện xác định bị đơn là Công ty T5 để yêu cầu hoàn trả số tiền phát sinh tử Hợp đồng vận chuyển số 1512/HĐSL-2021/PBN-NĐ ngày 15/12/2021 trong phạm vi số tiền MIC đã bồi thường cho Công ty N2 và Công ty M2.
[5.2] Nguyên đơn cho rằng khi Công ty N2 ký hợp đồng vận chuyển số 1512 với Công ty T5 đã có xác định rõ theo nội dung của Hợp đồng với Công ty T5 Nguyễn vận chuyển máy biến áp bằng sà lan số hiệu SG9206 thuộc sở hữu của Công ty T6. Do vậy, căn cứ Điều 530 Bộ luật Dân sự có đủ cơ sở khẳng định có việc giao kết hợp đồng vận chuyển giữa Công ty T6 và Công ty N2 đã được xác lập bằng hành vi. Do đó, sự cố xảy ra vào ngày 22 tháng 12 năm 2021 đối với Tàu kẻo M 25 (số đăng ký SG-5916) kéo theo sả lan M (số đăng ký 9206) là có thật, đã diễn ra trên thực tế được thể hiện tại Biên bản tai nạn giao thông do Công an thị trần T, huyện T. tỉnh Vĩnh Long lập ngày 22/12/2021 nên Công ty T5 và Công ty Tó phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho MIC số tiền mà MIC đã chỉ trà bối thường là 12.470.902.881 đồng. Trước yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn Công ty T5 luôn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án sơ và phúc thẩm và không có ý kiến gì: Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty T6 cho rằng việc ký hợp đồng vận chuyển số 1512 giữa Công ty N2 với Công ty T5, không có liên quan gì đến Công ty T6. Hơn nữa, tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 22/12/2021 thì Tàu kéo M 25 (số đăng ký SG-5916) đang lai kéo sà lan khác chứ không phái lai kéo Sả lan Mỹ An 22 như nguyên đơn trình bảy nên Công ty T6 không phải chịu trách nhiệm liên đới cùng với Công ty T5 Nguyễn trả số tiền đã chỉ bồi thường như là yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Căn cứ vào Hợp đồng vận chuyển số 1512/HĐSL-2021/PBN-NĐ ngày 15/12/2021, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chủ thể giao kết hợp đồng được thực hiện giữa Công ty N2 (Bên A - Bên thuê) với Công ty T5 (Bên B - Bên vận chuyển). Tại Điều 1 Nội dung của hợp đồng có ghi rõ Bên A đồng ý thuê bên B vận chuyển.... Bên B vận chuyển đường thủy bằng sà lan đến cảng Ô, Cần Thơ. Tại Điều 4.2 của Hợp đồng vận chuyển số 1512/HĐSL-2021/PBN-NĐ ngày 15/12/2021 có quy định: "... Trường hợp hàng hóa bị hư hỏng, mất mát, do lỗi của bên B (Công ty T5) thì phải bồi thường 100% giá trị tại thời điểm xảy ra tổn thất". Xét thấy, Hợp đồng nêu trên đã được đại diện hợp pháp của 02 Công ty ký kết trên cơ sở tự nguyện, có xác nhận và đóng dấu của hai pháp nhân làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng này. Việc Công ty T5 có mượn hay thuê lại sà lan và tàu kéo của Công ty Tó hay không là hai mối quan hệ hoàn toàn khác nhau trong hợp đồng phát sinh giữa Công ty T5 và Công ty T6 (nếu có). MIC cho rằng nội dung của Hợp đồng vận chuyển số 1512 với Công ty T5 vận chuyển máy biến áp bằng sà lan số hiệu SG9206 thuộc sở hữu của Công ty T6 để xác nhận Công ty N2 thực tế đã xác lập hợp đồng vận chuyển luôn cả với Công ty T6 bằng hành vì theo quy định tại Điều 530 Bộ luật Dân sự là không có cơ sở và đại diện của Công ty Tó cũng không thừa nhận có hợp đồng thuê sà lan và tàu kéo vận chuyển giữa Công ty T5 với Công ty T6. Ngoài ra, theo hồ sơ thể hiện, Công ty N2, Công ty P1 và Công ty T6 cũng không có văn bàn nào thể hiện có việc thỏa thuận giữa ba bên là Công ty Tó vận chuyển hàng hóa cho Công ty N2 và khi có thiệt hại xảy ra thị Công ty T6 cùng với Công ty T5 Nguyễn phải liên đới bồi thường cho Công ty N2.
[7] Căn cứ vào Văn bản số: 136/2022/TB/NĐ-PBN ngày 14/12/2022 “V/v Thông báo thể quyền" gửi Công ty T5. Căn cứ vào giấy ủy quyền ngày 21/12/2022 giữa bên ủy quyền là Công ty N2 và Công ty M2 với bên nhận ủy quyền là Tổng Công ty cổ phần B1 (MIC) tại Mục III có thể hiện nội dung: "... Chúng tôi đồng ý ủy quyền cho Tổng Công ty cổ phần B1 (MIC) thay mặt chúng tôi yêu cầu bên thứ ba bồi hoàn số tiền MIC đã bồi thường và được quyền thực hiện các công việc sau:
(1) Toàn quyền làm việc với bên thứ ba trong vụ tổn thất là Công ty TNHH T5.... (ii) Toàn quyền khiếu nại, khởi kiện, làm việc, thỏa thuận và các công việc khác để thu đòi bên thứ ba gây ra tổn thất nêu trên...". Ngoài ra, không có nội dung nào thể hiện nguyên đơn được quyền khởi kiện hay yêu cầu vẫn đề gì đối với Công ty T6 theo nội dung giấy ủy quyền ngày 21/12/2022, [8] Từ những phân tích tại các đoạn [4], [4.1], [4.2], [4.3], [4.4], [4.5], [5], [5.1], [5.2], [6] và [7], có đủ cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty cổ phần B1 (MIC); Buộc Công ty T5 phải hoàn lại số tiền mà MIC đã bồi thường là 12.470.902.881 đồng là phù hợp qui định tại khoản 1 Điều 275, khoản 1 Điều 541 Bộ luật Dân sự 2015, khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Điều 302 Luật Thương mại 2005. Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty T6 cùng với Công ty T5 phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho MIC số tiền mà MIC đã chỉ trả bồi thường là 12.470.902.881 đồng và Công ty Tó có trách nhiệm chịu ½ = 6.235.451.440 đồng trả cho MIC là không có cơ sở, chưa đánh giá toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như đã nhận định và phân tích tại các đoạn [6] và [7]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Tó, cải sửa một phần án án sơ thẩm.
[9] Ngoài ra, bị đơn trả tiền lãi cho nguyên đơn thuộc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong hợp đồng mà các bên không có thỏa thuận về việc trả lãi thì bản án phải quyết định: “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm lại quyết định: “Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lài của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định Điều 306 luật Thương mại năm 2005" là không đúng với quy định nêu trên. Dó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa nội dung này cho phù hợp với quy định của pháp luật.
[10] Về án phí sơ thẩm:
[10.1] Do cải sửa bản án sơ thẩm nên án phi được tỉnh lại như sau: Bị đơn Công ty T5 có nghĩa vụ trả tiền cho MIC do yêu cầu khởi kiện của MIC được chấp nhận một phần nên Công ty T5 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 120.470.903 đồng (Một trăm hai mươi triệu bốn trăm bảy mươi nghìn chín trăm lẻ ba đồng) nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Công ty T6 không phải chịu án phí sơ thẩm.
[10.2] Do không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty T6 có trách nhiệm liên đới với Công ty T5 Nguyễn trả số tiền đã chi trả bồi thường nên buộc nguyên đơn phải chịu án phi kinh doanh thương mại không có giá ngạch là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 60.235.000 đồng (Sáu mươi triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027774 ngày 08/5/2023 của Cục thì hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn trả số tiền chênh lệch cho Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) là 57.235.000 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
[11] Về án phí phúc thẩm: Do chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty T6 nên Công ty T6 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho Công ty T6, [12] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[13] Trong mối quan hệ thuê (mượn) xả lan và tảu kéo nêu trên giữa Công ty T5 với Công ty T6 (thực tế không có hợp đồng). Công ty T5 có nghĩa vụ trả lại tiền đã chỉ bồi thường cho MIC. Nếu sau này, giữa Công ty T5 với Công ty Tó có xảy ra tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty ΤΝΗΗ Τ6.
Sửa một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 17/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Căn cứ các Điều 21, Điều 30, Điều 35, Điều 96, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 1 Điều 275, khoản 1 Điều 541 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 21, Điều 30, Điều 35, Điều 96, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 1 Điều 275, khoản 1 Điều 541 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 275, Điều 357, Điều 468, khoản 1 Điều 541 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015; Điều 50, Điều 302 Luật thương mại năm 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng dịch vụ vận chuyển” theo Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa số 07/21/IGCN-HH.3/017-HH ngày 06/11/2021 đối với Công ty TNHH T5 và Công ty TNHH T6.
2. Buộc Công ty TNHH T5 có nghĩa vụ trả lại cho Tổng Công ty Cổ phần Bl (MIC) toàn bộ số tiền bảo hiểm đã chỉ bồi thường cho Công ty TNHH MTV N2 và Công ty Cổ phần M2 Điều khiển 3C là 12.470.902.881 đồng (Mười hai tỷ, bốn trăm bảy mươi triệu, chín trăm linh hai nghìn, tám trăm tám mươi mốt đồng).
3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong. bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) về việc yêu cầu Công ty TNHH T6 phải có trách nhiệm liên đới cũng với C2 Công ty TNHH T5 trả lại cho Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) toàn bộ số tiền bảo hiểm đã chỉ bồi thường cho Công ty TNHH MTV N2 và Công ty Cổ phần M2 Điều khiển 3C là 12.470.902.881 đồng (Mười hai tỷ, bồn trăm bảy mươi triệu, chín trăm lĩnh hai nghìn, tám trăm tám mươi mốt đồng) 5. Về án phí sơ thẩm:
5.1 Buộc Công ty TNHH T5 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 120.470.903 đồng (Một trăm hai mươi triệu bốn trăm bảy mươi nghìn chín trăm lẻ ba đồng) nộp vào Ngân sách nhà nước.
5.2 Buộc Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) phải chịu án phí sơ thẩm là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được khẩu trửvào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 60,235.000 đồng (Sáu mươi triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027774 ngày 08/5/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn trả số tiền chênh lệch cho Tổng Công ty Cổ phần B1 (MIC) là 57.235.000 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
6. Về án phí phúc thẩm: Công ty TNHH T6 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH T6 số tiền tạm ứng án phi phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006117 ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Về hiệu lực của bản ản: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển số 10/2025/KDTM-PT
| Số hiệu: | 10/2025/KDTM-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Long An |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 30/05/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về