Bản án về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung số 147/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 147/2022/HNGĐ-ST NGÀY 04/07/2022 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Bé N, sinh năm 1985 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp TP, xã ĐH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1973 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp TP, xã ĐH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bà Trần Bé N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào ngày 19/11/2018. Qúa trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, cự cải với nhau do bất đồng quan điểm sống, bà và ông L đã ly thân với nhau từ đầu năm 2022 đến nay. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu giải quyết cho ly hôn với L.

Về con chung: Bà và ông L có 02 người con chung tên Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 30/11/2006 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 17/12/2008 hiện đang sống với ông Nguyễn Văn L. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu con có nguyện vọng sống chung với ai người đó nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Đối với ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra. Tòa án nhận định:

[1] Tranh chấp giữa bà Trần Bé N và ông Nguyễn Văn L là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Văn L có địa chỉ cư trú tại ấp TP, xã ĐH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án:

Về hôn nhân: Bà Trần Bé N và ông Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 19/11/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đông Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì bà Trần Bé N có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của bà N đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập ông L hợp lệ đến lần thứ hai đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông L vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông L.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa bà N và ông L phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải với nhau, ông bà đã sống ly thân với nhau thời gian dài, mâu thuẫn đã trầm T nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà N ly hôn với ông L.

Về nuôi dưỡng con chung: Bà và ông L có 02 người con chung tên Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 30/11/2006 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 17/12/2008 hiện đang sống với ông Nguyễn Văn L. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu con có nguyện vọng sống chung với ai người đó nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy, ông L không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà N, trong khi đó hai cháu Nguyễn Hoàng T và Nguyễn Minh N sống chung với ông L từ khi bà N và ông L sống ly thân với nhau và tại biên bản ghi lời khai ngày 29/6/2022 thì hai cháu có nguyện vọng được sống chung với ông L nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Hoàng T và Nguyễn Minh N cho ông L nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 và 82 Luật hôn nhân và gia đình. Bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Cho bà Trần Bé N ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 30/11/2006 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 17/12/2008 cho ông Nguyễn Văn L nuôi dưỡng. Bà Trần Bé N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc bà Trần Bé N phải chịu án phí là 300.000 đồng, ngày 21/3/2022 bà L có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007935 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được chuyển thu.

Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

137
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung số 147/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:147/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 04/07/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về