Bản án về tranh chấp xin ly hôn số 79/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 79/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồng Thị X, sinh năm 1973 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm E, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau

Bị đơn: Ông Dương Văn B, sinh năm 1961 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm E, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn bà Hồng Thị X trình bày yêu cầu:

Về hôn nhân: Bà Hồng Thị X và ông Dương Văn B có thời gian tìm hiểu và kết hôn trên tinh thần tự nguyện năm 1995, hôn nhân có tổ chức lễ cưới gả theo phong tục, tập quán địa phương. Đến năm 2009, vợ chồng mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Lý do xin ly hôn: Lúc đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, đầu năm 2022 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, ông Bình t hay đánh đập bà X, bà X nhiều lần khuyên can nhưng ông B không sửa đổi. Xét thấy đời sống chung không mang lại hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà Hồng Thị X yêu cầu ly hôn với ông Dương Văn B.

Về con chung: Có hai người con.

Dương Quốc M, sinh ngày 07/7/1996 (nam);

Dương Quốc K, sinh ngày 22/6/2002 (nam).

Các con hiện nay đã trưởng thành nên khi ly hôn, bà X không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Dương Văn B: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà ông Dương Văn B không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc bà X yêu cầu ly hôn, về việc nuôi con, chia tài sản chung và công nợ; Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Dương Văn B vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn xin vắng mặt.

Bị đơn - Ông Dương Văn B trình bày: Thời điểm kết hôn và tình trạng hôn nhân đúng như bà X trình bày. Mâu thuẫn giữa vợ chồng là có xảy ra, vợ chồng thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông B không đánh đập bà X, ông chỉ đe dọa xâm phạm sức khỏe của bà X vì vợ chồng mâu thuẫn về tiền bạc, bà X mượn tiền của ông để cho con trai cưới vợ nhưng bà X không trả lại. Vợ chồng ông B và bà X ly thân từ ngày 07/8/2024 đến nay. Ông B không đồng ý ly hôn vì ông lớn tuổi cần người chăm sóc. Trường hợp ly hôn, cháu Dương Quốc M sống với bà Hồng Thị X còn cháu Dương Quốc K sống với ông B. Về tài sản chung tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ thu và nợ trả không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng.

Bà Hồng Thị X yêu cầu ly hôn với ông Dương Văn B ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Đây là tranh chấp “Xin ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; do ông B cư trú tại khóm E, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Hồng Thị X có đơn xin vắng mặt phiên xét xử vì bận làm việc ở xa, điều kiện đi lại khó khăn, yêu cầu này của bà X là chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2]. Về nội dung vụ án.

- Về hôn nhân: Bà Hồng Thị X và ông Dương Văn B có thời gian tìm hiểu và kết hôn trên tinh thần tự nguyện năm 1995, hôn nhân có tổ chức lễ cưới gả theo phong tục, tập quán địa phương. Đến ngày 30/12/2009, vợ chồng mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau, giấy chứng nhận kết hôn số 328, quyển số 02/2009, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Hồng Thị X và ông Dương Văn B được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Bà X cho rằng trong cuộc sống vợ, chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông Bình thường x bạo lực gia đình, xâm phạm đến sức khỏe của bà X dẫn đến mất hạnh phúc, bà Hồng Thị X yêu cầu ly hôn với ông Dương Văn B. Ông B xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng là có xảy ra, vợ chồng thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông B không có đánh đập bà X mà chỉ đe dọa bà X. Vợ chồng ly thân từ ngày 07/8/2024 đến nay. Ông B không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, các đương sự đã xác định việc chung sống với con sau khi ly hôn, mâu thuẫn giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, có duy trì cũng không mang lại hạnh phúc cho đôi bên nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hồng Thị X với ông Dương Văn B theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về nuôi con: Có hai người con chung.

Dương Quốc M, sinh ngày 07/7/1996 (nam);

Dương Quốc K, sinh ngày 22/6/2002 (nam), các người con hiện nay đã trưởng thành.

- Việc nuôi con, về chia tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét là có cơ sở.

- Về án phí: Bà Hồng Thị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà X được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 147, 220, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Cho bà Hồng Thị X ly hôn đối với ông Dương Văn B.

Về nuôi con: Có hai người con chung.

Dương Quốc M, sinh ngày 07/7/1996 (nam);

Dương Quốc K, sinh ngày 22/6/2002 (nam), các người con hiện nay đã trưởng thành.

Việc nuôi con, về chia tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà Hồng Thị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, bà X được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0014133 ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn, bà X đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

111
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về tranh chấp xin ly hôn số 79/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:79/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Năm Căn - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về