TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
BẢN ÁN 50/2024/HNGĐ-ST NGÀY 31/01/2024 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN
Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 720/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2023/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn : Chị NGUYỄN THỊ TƯỜNG L, sinh năm 1978 Địa chỉ: ấp 5, xã AH, huyện CB, tỉnh TG.
* Bị đơn: Anh PHAN TIỀN G, sinh năm 1979 Địa chỉ: ấp 5, xã AH, huyện CB, tỉnh TG.
(Chị L và anh G vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, phía nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường L trình bày:
Chị và anh G xác lập quan hệ vợ chồng năm 2012, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới về sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị là do vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không hợp tính tình, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nhau, anh G không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, vợ chồng hàn gắn đoàn tụ nhiều lần nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nay chị xin ly hôn anh G.
+ Về con chung : Anh chị có 02 con chung tên Phan Tấn P, sinh ngày 10/12/2009 và Phan Nguyễn Tường V, sinh ngày 19/02/2015, khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, chị không yêu cầu anh G cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Phan Tiền G đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh không cung cấp ý kiến đối với vụ kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
+ Chị Nguyễn Thị Tường L có đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt, căn cứ điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị là phù hợp theo quy định của pháp luật.
+ Anh Phan Tiền G đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vắng mặt không lý do, căn cứ điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh là phù hợp theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh G xác lập quan hệ vợ chồng năm 2012, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới về sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị là do vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không hợp tính tình, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nhau, anh G không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, vợ chồng hàn gắn đoàn tụ nhiều lần nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh Giang nên chị cương quyết xin ly hôn anh G. Còn anh G vắng mặt không lý do, mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần thông báo về việc chị L xin ly hôn nhưng anh không cung cấp ý kiến lời khai đối với vụ kiện, chứng tỏ anh không còn quan tâm đến mối quan hệ vợ chồng giữa anh và chị L, đồng thời xem như anh tự từ bỏ quyền bảo vệ quyền và ích lợi hợp pháp của mình. Nhận thấy tình cảm của anh, chị đã thật sự tan vỡ, hai bên đã phát sinh mâu thuẫn kéo dài và ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay nhưng không hàn gắn đoàn tụ lại được. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị, cho chị L được ly hôn anh G là phù hợp theo điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung cháu Phan Tấn P, sinh ngày 10/12/2009 và Phan Nguyễn Tường V, sinh ngày 19/02/2015. Phía chị L yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung sau khi ly hôn. Xét thấy từ khi ly thân con chung do chị L nuôi dưỡng đã ổn định và chị L chăm sóc 02 con chung phát triển tốt, mặc khác qua tham khảo ý kiến của hai con chung cũng có mong muốn sống với chị L khi ba, mẹ ly hôn. Do vậy, hội đồng xét xử xét thấy để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý của 02 con chung và ổn định cuộc sống của 02 cháu nên tiếp tục giao 02 con chung cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp theo điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không có ý kiến và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Không có.
[5] Về nợ chung: Không có.
[6] Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử :
1/ Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Tường L. Cho chị Nguyễn Thị Tường L được ly hôn anh Phan Tiền G.
2/ Về con chung: Tiếp tục giao hai con chung cháu Phan Tấn P, sinh ngày 10/12/2009 và Phan Nguyễn Tường V, sinh ngày 19/02/2015 cho chị Linh nuôi dưỡng.
Anh Phan Tiền G không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Anh Phan Tiền G được quyền thăm nom 02 con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở.
3/ Về án phí :
Chị Nguyễn Thị Tường L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014605 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nên xem như chị đã thi hành xong và không phải nộp tiếp.
Về quyền kháng cáo: Chị L và G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi Tòa án tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Bản án về tranh chấp xin ly hôn số 50/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 50/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Cái Bè - Tiền Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 31/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về