TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
BẢN ÁN 39/2025/HNGĐ-ST NGÀY 25/02/2025 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN
Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 330/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Tuyết N, sinh năm 1995.(có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: 1992/1, khu phố Lăng 1, thị trấn VL, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1993.(vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố Lăng 2, thị trấn VL, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 12 tháng 12 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trịnh Thị Tuyết N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Minh T sống chung năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn VL, huyện G vào năm 2016. Quá trình sống chung hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẩn do anh T cờ bạc gây nợ nần, không chăm lo cho vợ con, sống ly thân từ giữa năm 2024 cho đến nay. Nay thấy không còn tình cảm với anh T, chị yêu cầu tòa án giải quyết, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N yêu cầu ly hôn với anh T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Khánh N, sinh ngày 18/09/2019, hiện con đang sống với mẹ. Ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn chị Trịnh Thị Tuyết N.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, xác minh thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án và tuân thủ đúng thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại các Điều 26 đến Điều 40; Điều 68; Điều 93 đến Điều 97; Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện theo đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện chị Trịnh Thị Tuyết N, cho chị Trịnh Thị Tuyết N được ly hôn với anh Nguyễn Minh T, giao con chung tên Nguyễn Khánh N cho chị N nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu; tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết; chịN phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Trịnh Thị Tuyết N có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Tuyết N và anh Nguyễn Minh T kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn vào năm 2016 và được Ủy ban nhân dân thị trấn VL, huyện G, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 96/2016, ngày 19/10/2016, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
[3] Chị Trịnh Thị Tuyết N cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn là do anh T cờ bạc gây nợ nần, không chăm lo cho vợ con, sống ly thân từ giữa năm 2024 cho đến nay. Nay không còn tình cảm với anh T nên chị N xin ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
[4] Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không nộp bản tự khai, vắng mặt tại các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại các phiên tòa.
[5] Xét, chị Trịnh Thị Tuyết N và anh Nguyễn Minh T mâu thuẫn đã trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T cờ bạc gây nợ nần, không chăm lo cho vợ con, sống ly thân từ giữa năm 2024 cho đến nay; anh Nguyễn Minh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; giữa chị Trịnh Thị Tuyết N và anh Nguyễn Minh T không còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chị Trịnh Thị Tuyết N xin ly hôn anh Nguyễn Minh T là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
[6] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 01 con chung tên Nguyễn Khánh N, sinh ngày 18/09/2019, hiện con đang sống với mẹ. Ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
[7] Xét, cháu Nguyễn Khánh N đang được chị Trịnh Thị Tuyết N nuôi dưỡng đồng thời anh Nguyễn Minh T không có ý kiến gì về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung Khánh N cho chị Trịnh Thị Tuyết N nuôi dưỡng và anh Nguyễn Minh T không cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
[8] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trịnh Thị Tuyết N trình bày không có, anh Nguyễn Minh T cũng không có ý kiến gì về tài sản cũng như nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, là có căn cứ.
[10] Về án phí: Nguyên đơn chị Trịnh Thị Tuyết N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị Tuyết N được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Khánh N, sinh ngày 18/9/2019 cho chị Trịnh Thị Tuyết N nuôi dưỡng, anh Nguyễn Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Trịnh Thị Tuyết N không có yêu cầu.
Anh Nguyễn Minh T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Trịnh Thị Tuyết N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013851 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tiền Giang, nên xem như đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.
Bản án về tranh chấp xin ly hôn số 39/2025/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 39/2025/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Gò Công Đông - Tiền Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 25/02/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về