Bản án về tranh chấp xin ly hôn số 209/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 209/2024/HNGĐ-ST NGÀY 27/06/2024 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 121/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1982.(có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1978.(vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự ngày 15 tháng 4 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Ngọc T sống chung và kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn VL, huyện GCĐ vào năm 2006. Quá trình sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, không còn hợp nhau, thường xuyên cải vã về mọi mặt trong đời sống vợ chồng, sống ly thân từ đấu năm 2024 cho đến nay. Giữa vợ chồng không có sự thông cảm, chia sẻ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị L yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ L yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.

- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn T S, sinh năm 2005 và Nguyễn Thị NGọc G, sinh ngày 21/11/2008. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Thị NGọc G, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Nguyễn T S đã trưởng thành, lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T đã được tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Mỹ L.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, xác minh thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án và tuân thủ đúng thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại các Điều 26 đến Điều 40; Điều 68; Điều 93 đến Điều 97; Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện theo đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Mỹ L, cho chị Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T, giao con chung tên Nguyễn Thị NGọc G cho chị L nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu, riêng cháu Nguyễn T S đã trưởng thành, lao động được nên không xem xét; tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết; chị L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Ngọc T kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 142, quyển số 01 ngày 12/10/2006, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[3] Chị Phạm Thị Mỹ L cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc từ năm 2006 đến đầu năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không có tiếng nói chung, không còn hợp nhau, thường xuyên cải vã về mọi mặt trong đời sống vợ chồng, sống ly thân từ đấu năm 2024 cho đến nay. Nay không còn tình cảm với anh T nên chị L xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.

[4] Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không nộp bản tự khai, vắng mặt tại các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại các phiên tòa.

[5] Xét, chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Ngọc T mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn hợp nhau, thường xuyên cải vã về mọi mặt trong đời sống vợ chồng; anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; giữa chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Ngọc T không còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chị Phạm Thị Mỹ L xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc T là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Ngoài ra qua xác minh của chính quyền địa phương cho biết nguyên nhân mâu thuẫn và điều kiện nuôi con thì chính quyền địa phương không nắm rõ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Mỹ L.

[6] Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn T S, sinh năm 2005 và Nguyễn Thị NGọc G, sinh ngày 21/11/2008. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Thị NGọc G, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Nguyễn T S đã trưởng thành, lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Xét, anh Nguyễn Ngọc T cũng không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con chung của chị L và cháu Nguyễn Thị NGọc G hiện đang ở cùng với chị L, nên yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị NGọc G, sinh ngày 21/11/2008 của chị L là có căn cứ, phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Riêng cháu Nguyễn T S đã trưởng thành, lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Mỹ L trình bày không có, anh Nguyễn Ngọc T cũng không có ý kiến gì về tài sản cũng như nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GCĐ, là có căn cứ. [10] Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.

- Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Thị NGọc G, sinh ngày 21/11/2008 cho chị Phạm Thị Mỹ L nuôi dưỡng, anh Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Phạm Thị Mỹ L không có yêu cầu. Riêng cháu Nguyễn T S đã trưởng thành, lao động được nên không xem xét, giải quyết.

Anh Nguyễn Ngọc T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị Phạm Thị Mỹ L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013362 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang, nên xem như đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

94
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp xin ly hôn số 209/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:209/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Công Đông - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về