Bản án về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con số 74/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 74/2024/HNGĐ-ST NGÀY 06/09/2024 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số:

98/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ V, sinh năm 1989 (Có mặt);

- Bị đơn: Ông Trịnh Quang H, sinh năm 1987 (Vắng mặt);

Cùng cư trú: Thôn Ninh Quý 3, xã Phước Sơn, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trịnh Quang H tự do tìm hiểu và tự nguyện chung sống với nhau, hai bên tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Sơn, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tại số: 113/2011, quyền số: 01/2010, ngày 21/7/2011; Vợ chồng chung sống tại thôn Ninh Quý 3, xã Phước Sơn, huyện Ninh Phước. Quá trình chung sống thì vợ chồng không hạnh phúc do không hợp, ngoài ra ông H là người lười lao động, chỉ thích ăn chơi hưởng lạc bỏ mặc bà một mình lo liệu cho cả gia đình; Ông H còn nhiều lần dũng vũ lực với bà mỗi khi vợ chồng cãi nhau; Bà đã nhiều lần khuyên giải và góp ý để cải thiện đời sống hôn nhân nhưng ông H không nghe vì vậy mâu thuẫn không được giải quyết mà ngày càng trầm trọng hơn.

Vợ chồng bà mâu thuẫn đã lâu và kéo dài đến nay đã không còn tôn trọng nhau, bà xác định đã hết tình cảm với chồng, hạnh phúc gia đình không có và hôn nhân không có tương lai nên bà yêu cầu được ly hôn ông Trịnh Quang H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trịnh Quang Nh, sinh ngày: 08/12/2011 và Trịnh Thị Ánh Ng, sinh ngày: 11/11/2015. Từ trước đến nay thì bà luôn là người chăm sóc và lo cho con chung nên nay ly hôn thì bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà có nghề buôn bán thu nhập ổn định khoảng 8.000.000đ/tháng, đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông H cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trịnh Quang H đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng của Tòa nhưng không đến nên không có lời trình bày.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ nhiều lần. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lê Thị Mỹ V khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn ông Trịnh Quang H; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định: Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trịnh Quang H có địa chỉ cư trú tại thôn Ninh Quý 3, xã Phước Sơn, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự; Bị đơn ông Trịnh Quang H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ V và ông Trịnh Quang H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Sơn, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tại số: 113/2011, quyền số: 01/2010, ngày 21/7/2011; Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà V trình bày thì vợ chồng không hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, lý do là không hợp, ông H là người lười lao động, chỉ thích ăn chơi hưởng lạc bỏ mặc bà một mình lo liệu cho cả gia đình; Ông H còn nhiều lần dũng vũ lực với bà mỗi khi vợ chồng cãi nhau; Bà đã nhiều lần khuyên giải và góp ý để cải thiện đời sống hôn nhân nhưng ông H không nghe vì vậy mâu thuẫn không được giải quyết mà ngày càng trầm trọng hơn, hiện vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng và không có khả năng hàn gắn. Ông Trịnh Quang H không đến Tòa làm việc coi như từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình và cho thấy ông H không có thiện chí hàn gắn vợ chồng đồng thời chứng tỏ lời trình bày của bà V là đúng sự thật. Như vậy cuộc sống hôn nhân giữa bà V và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Thực tế này phù hợp với nội dung “Đơn xin xác nhận” về tình trạng hôn nhân của bà Lê Thị Mỹ V được chính quyền địa phương xác nhận vì vậy việc bà Lê Thị Mỹ V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trịnh Quang H là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà Lê Thị Mỹ V và ông Trịnh Quang H có 02 con chung tên Trịnh Quang Nh, sinh ngày: 08/12/2011 và Trịnh Thị Ánh Ng, sinh ngày: 11/11/2015; Bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung.

Xét thấy: Ông H không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến trong việc giải quyết người nuôi con, trong khi đó bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung khi ly hôn, đồng thời tại biên bản lấy lởi khai ngày 12/7/2024 cả 02 con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho bà Lê Thị Mỹ V là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung Trịnh Quang Nh và Trịnh Thị Ánh Ng.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Trịnh Quang H không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Lê Thị Mỹ V không yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bà Lê Thị Mỹ V phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Khoản 1 Điều 273; Điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ V được ly hôn ông Trịnh Quang H.

2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Mỹ V có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung tên Trịnh Quang Nh, sinh ngày: 08/12/2011 và Trịnh Thị Ánh Ng, sinh ngày: 11/11/2015.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trịnh Quang H không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Lê Thị Mỹ V không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

4. Về án phí: Bà Lê Thị Mỹ V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0001224, ngày 22 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Bà Lê Thị Mỹ V đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/9/2024); Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

45
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con số 74/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:74/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Phước - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:06/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về