Bản án về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con số 131/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 131/2023/HNGĐ-ST NGÀY 15/12/2023 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2023/TLST-HNGD, ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 168/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị P, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Ấp K, xã Đ T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Dương Văn N, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Ấp K, xã Đ T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.

(Chị P vắng mặt có đơn xin vắng mặt; anh N vắng mặt lần 02 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Hồ Thị P trình bày như sau:

Chị P và anh N sống với nhau vào năm 2002, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang ngày 05/10/2012.

Vợ chồng chung sống đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuân là do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, đời sống vợ chồng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng đã hàn gắn nhưng không được, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân từ năm 2014 đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Chị P yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Có 02 con chung tên Dương Tiểu M, sinh ngày 17/3/2003 và Dương Hồ V, sinh ngày 25/06/2012, cháu M đã trưởng thành nên không yêu cầu xem xét, chị P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu V và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và không có ai nợ lại vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn Dương Văn N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa đồng thời không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị P giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày. Anh N đều vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, xử cho chị P được ly hôn với anh N; Về con chung: Cháu Dương Tiểu M, sinh ngày 17/3/2003, cháu M đã trưởng thành nên không xem xét. Giao cháu Dương Hồ V, sinh ngày 25/06/2012 (Theo nguyện vọng cháu V) cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị P vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt. Đối với bị đơn anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do, căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án: Chị P yêu cầu được ly hôn với anh N và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung nên quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Xét yêu cầu ly hôn của chị P, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị P kết hôn với anh N trên cơ sở tự nguyện và đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang ngày 05/10/2012, nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh N hợp lệ nhiều lần nhưng anh N vẫn vắng mặt không lý do, đồng thời không gửi văn bản nêu ý kiến trước yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị P, không thể hiện hiện ý chí hàn gắn hôn nhân, vợ chồng đã tự ly thân từ cuối năm 2020 đến nay, không còn quan tâm chăm lo, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa anh, chị đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thống nhất cho chị P được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị P xác định vợ chồng có 02 người con chung tên Dương Tiểu M, sinh ngày 17/3/2003 và Dương Hồ V, sinh ngày 25/06/2012, cháu M đã trưởng thành nên không xem xét, cháu Vũ có nguyện vọng được sống với mẹ là chị P. Còn chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Vũ, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Dương Hồ V cho chị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục. Anh N không cấp dưỡng nuôi con do chị P không có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Chị P xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị P có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị P được ly hôn với anh Dương Văn N.

2. Về con chung: Cháu Dương Tiểu M, sinh ngày 17/3/2003 hiện nay đã trưởng thành nên không xem xét. Giao cháu Dương Hồ V, sinh ngày 25/06/2012 (Theo nguyện vọng cháu V) cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị P không có yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai đươc ngăn cản, tuy nhiên anh N không được lạm dụng quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Hồ Thị P có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0008856 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị P đã nộp xong án phí.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, chị P và anh N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

66
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con số 131/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:131/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Biên - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về